B2.6.1. Chính sách, luật pháp và quy định hỗ trợ tiếp cận công lý

B2.6.1. Chính sách, luật và quy định hỗ trợ tiếp cận công lý

Tiếp cận công lý được pháp luật Việt Nam công nhận là quyền của mọi cá nhân, tổ chức được tiếp cận các thể chế pháp lý chính thức và phi chính thức và yêu cầu bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khung pháp lý cũng đảm bảo khả năng tiếp cận các khiếu nại, khắc phục, bồi thường và khả năng thi hành các quyết định của mình. Trong bối cảnh REDD+, các cơ chế giải quyết xung đột và tranh chấp liên quan dự kiến sẽ được cung cấp cho các bên liên quan trong suốt quá trình thực hiện các chính sách và biện pháp REDD+ thuộc Chương trình REDD+ Quốc gia và Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh để giải quyết mọi tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện chúng.

Hiến pháp Việt Nam (2013) công nhận quyền tiếp cận công lý,[1] trong khi Luật Khiếu nại (2011)[2] cung cấp một khuôn khổ pháp lý toàn diện để công dân chính thức tiếp cận công lý liên quan đến các quyết định hành chính, bao gồm cả các quyết định liên quan đến tiếp cận, quản lý, sở hữu và sử dụng rừng và đất rừng. Luật Khiếu nại công nhận quyền tiếp cận các dịch vụ pháp lý thông qua luật sư hoặc thông qua trợ giúp pháp lý nếu người khiếu nại có quyền được hưởng các dịch vụ trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý (2017).[3] Bộ luật Tố tụng Dân sự (2015)[4] quy định rằng các bên có quyền yêu cầu luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Luật Đất đai (2013 và 2024) đưa ra một số quy định cụ thể liên quan đến quyền tiếp cận công lý đối với các quyết định liên quan đến quản lý đất đai và quyền tố cáo các hành vi vi phạm Luật Đất đai (2013 và 2024).[5] Luật Bảo vệ Môi trường (2020) đưa ra quy định chung về giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bảo vệ môi trường.[6] Ngoài ra, Luật Hòa giải cơ sở (2013) chính thức hóa thành luật hoạt động giải quyết tranh chấp, khiếu nại phổ biến ở cấp địa phương thông qua việc sử dụng luật tục, quy định cấp địa phương và/hoặc các kênh không chính thức khác.[7]

Luật Hòa giải, Đối thoại (2020) nhấn mạnh chính sách của Nhà nước khuyến khích các bên giải quyết các vụ án dân sự, vụ án hành chính thông qua hòa giải, đối thoại tại tòa án. Gồm 42 điều, chia thành 4 chương, luật quy định quyền, nghĩa vụ của hòa giải viên và các bên trong hoạt động hòa giải, đối thoại tại tòa án, trách nhiệm của tòa án trong hoạt động hòa giải, đối thoại. Luật cũng quy định trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại và công nhận kết quả hòa giải, đối thoại thành công tại tòa án.[8]

Luật Hòa giải cơ sở (năm 2013) chính thức hóa việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại ở cấp cơ sở thông qua việc sử dụng luật tục và quy định của địa phương. Kinh phí hỗ trợ cho hoạt động hòa giải cơ sở được lấy từ ngân sách nhà nước. Ủy ban nhân dân xã, phường có trách nhiệm lập dự toán kinh phí hỗ trợ hoạt động hòa giải trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định; hỗ trợ kinh phí cho hoạt động hòa giải ở xã, phường, thị trấn.[9]

 

[1] Hiến pháp Việt Nam (2013), Điều 30

[2] Luật Khiếu nại (2011); khiếu nại có thể được gửi trực tiếp đến người ra quyết định và quy trình kháng cáo được cung cấp ở cấp cao hơn trực tiếp. Ngoài ra, khiếu nại có thể được đưa lên cấp cao hơn nữa theo Luật Tố tụng hành chính (2015).

[3] Luật Trợ giúp pháp lý (2017), Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

[4] Bộ luật Tố tụng Dân sự (2015), Điều 9

[5] Luật Đất đai (2024), Điều 235 & 237. Trình tự, thủ tục cụ thể để giải quyết tranh chấp đất đai được quy định tại Điều 105 đến Điều 108 của Nghị định số 102/2024/NĐ-CP của Chính phủ, bao gồm cả tranh chấp đất đai mà các bên không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp này, các bên tranh chấp cần trình bày chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất.

[6] Luật Bảo vệ môi trường (2020), Điều 163

[7] Luật Hòa giải cơ sở (2013). Xem thêm Nghị định số 15/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải cơ sở và Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTUMTTQVN của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc hướng dẫn, phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải cơ sở.

[8] Kế hoạch phân chia lợi ích GIẢM PHÁT THẢIP FCPF cuối cùng (2023): https://documents1.worldbank.org/curated/en/099084503102316232/pdf/P1626050c673020320adf60bbaaf0f53b