B2.2.2. Lợi ích, rủi ro và biện pháp của NRAP liên quan đến quyền đối với đất và đất rừng

B2.2.2. Lợi ích, rủi ro và biện pháp của NRAP liên quan đến quyền đối với đất và đất rừng

Một số lợi ích và rủi ro liên quan đến quyền đối với đất đai và đất rừng đã được xác định thông qua các quy trình lập kế hoạch REDD+ ở cấp quốc gia và cấp dưới quốc gia. Đánh giá năm 2017 về các lợi ích và rủi ro tiềm ẩn phát sinh từ các chính sách và biện pháp của Chương trình hành động REDD+ quốc gia (NRAP)[1] đã xác định các lợi ích và rủi ro đồng thời có liên quan sau đây:

Các chính sách và biện pháp REDD+ có thể hỗ trợ cải thiện khả năng tiếp cận và tăng cường quyền sử dụng đất đai và tài nguyên rừng (và vốn tự nhiên liên quan);

Có nguy cơ mất các tài sản sản xuất như đất đai, quyền tiếp cận hoặc quyền sử dụng rừng/đất lâm nghiệp và do đó, có khả năng gia tăng xung đột về quyền sở hữu và/hoặc sử dụng đất đai;

Khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên như rừng và đất đai để sinh tồn và/hoặc sinh kế bị giảm sút;

Có thể thiếu việc duy trì hoặc bỏ hoang rừng cây ven biển trên các vùng đất được phân loại là rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng.

Đánh giá ở cấp quốc gia cũng đưa ra các biện pháp đề xuất để tăng cường các lợi ích đã xác định và giảm thiểu rủi ro liên quan đến quyền đối với đất đai và đất rừng, chẳng hạn như: thúc đẩy các quy trình tham vấn toàn diện và bao trùm cho các đánh giá môi trường chiến lược/đánh giá tác động môi trường; và xây dựng các hướng dẫn rõ ràng cho quản lý rừng hợp tác, các mô hình kinh doanh lâm sản ngoài gỗ (NTFP) và các can thiệp sinh kế.

Ở cấp độ địa phương, cần phải phân tích các rủi ro và lợi ích về mặt xã hội và môi trường để xây dựng các Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh (PRAP),[2] và các đánh giá cũng đã được thực hiện cho các chương trình cụ thể của cấp dưới quốc gia. Ví dụ, các đánh giá này bao gồm Đánh giá môi trường và xã hội chiến lược (SESA) cho Chương trình giảm phát thải FCPF ở vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ của Việt Nam và đánh giá các cân nhắc về môi trường và xã hội cho Dự án quản lý rừng bền vững ở lưu vực Tây Bắc (SUSFORM-NOW) do JICA tài trợ.

FCPF SESA và ESMF xác định một số rủi ro liên quan đến sử dụng đất và rừng, lưu ý rằng quyền sở hữu đất, tiếp cận tài nguyên và sinh kế luôn được coi là các vấn đề xã hội quan trọng nhất liên quan đến việc thực hiện REDD+.[3] Các rủi ro được xác định bao gồm: khả năng giảm khả năng tiếp cận tài nguyên rừng đối với các cộng đồng phụ thuộc vào rừng thông qua việc cải thiện quản trị rừng; tác động xã hội do mất đất trước đây được sử dụng cho mục đích nông nghiệp hoặc hạn chế tiếp cận rừng để thu hoạch lâm sản ngoài gỗ; và các vấn đề có thể xảy ra về giới và nghèo đói liên quan đến việc tiếp cận rừng. Về các biện pháp giảm thiểu, Khung chính sách tái định cư đã được chuẩn bị cho Chương trình FCPF, trong đó nêu rõ tiêu chí đủ điều kiện của những người phải di dời, phương thức bồi thường và phục hồi, các tính năng tham gia và thủ tục khiếu nại. Khung quy trình cũng đã được chuẩn bị để hướng dẫn các thủ tục xác định, đánh giá, giảm thiểu và giảm thiểu các tác động tiêu cực tiềm ẩn đối với sinh kế của người dân địa phương do hạn chế tiếp cận. Để đạt được các mục tiêu liên quan đến bảo vệ rừng và phát triển bền vững, cũng như REDD+, điều cần thiết là phải thúc đẩy các hình thức quản trị rừng công bằng và hợp tác hơn, giải quyết các vấn đề về xung đột đất đai và tài nguyên, và đảm bảo chia sẻ lợi ích minh bạch và công bằng.

Khung quy trình đã được đưa ra để thúc đẩy tham vấn và quản lý hợp tác cho việc thực hiện các can thiệp REDD+, dựa trên khuôn khổ pháp lý và các công cụ bảo vệ của Việt Nam, chẳng hạn như Tham vấn tự nguyện, được báo trước và thông tin đầy đủ (FPIC) (xem SIS C2.2 và D2.2) và các cơ chế chia sẻ lợi ích (SIS B2.3). Các cơ chế hiệu quả để giải quyết các vấn đề gây tranh cãi, khiếu nại và tranh chấp trong quá trình thực hiện REDD+, được gọi chung là GRM, cũng là cần thiết như một phần của việc giải quyết và tôn trọng các biện pháp ĐBAT Cancun, bao gồm cả các tranh chấp liên quan đến quyền đối với đất đai và đất rừng. Giải quyết khiếu nại đối với REDD+ tại Việt Nam được thảo luận chi tiết hơn trong SIS B2.6.

 

[1] Tóm tắt từ đánh giá năm 2018 về các lợi ích và rủi ro tiềm ẩn phát sinh từ NRAP và FCPF ERP. https://ewsdata.rightsindevelopment.org/files/documents/05/WB-P162605_aCVp4Yl.pdf

[2] Quyết định số 5414/QD-BNN-TCLN ngày 25 tháng 12 năm 2015 về hướng dẫn xây dựng PRAP

[3] Tài liệu Chương trình Giảm phát thải Bắc Trung Bộ (FCPF ERPD). https://www.forestcarbonpartnership.org/system/files/documents/00_FINAL%20ER-PD%20Vietnam%205%20Jan%202018__0.pdf

[4] MARD (2018) Khung chính sách tái định cư https://documents1.worldbank.org/curated/en/342091549017853009/pdf/RPF-Vietnam-FCPF-REDD-Novembgiảm phát thải-4-2018.pdf

[5] MARD (2018) Khung quy trình giảm phát thải FCPF, có tại https://view.officeapps.live.com/op/view.aspx?src=https%3A%2F%2Fdocuments1.worldbank.org%2Fcurated%2Fen%2F649181549019417056%2FProcess-Framework-GIẢM PHÁT THẢIP-Nov2017-Tarr-4th-of-Novembgiảm phát thải-2018.docx&wdOrigin=BROWSELINK