B2.4.1. Chính sách, luật và quy định về bình đẳng giới
Bình đẳng giới được công nhận trong Hiến pháp 2013[1] cũng như trong Luật Bình đẳng giới (2006)[2] và trong một loạt các chính sách, luật và quy định khác. Bình đẳng giới được kỳ vọng sẽ được giải quyết và tôn trọng trong suốt quá trình thực hiện Chương trình hành động REDD+ quốc gia,[3] Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh và các chương trình REDD+.
Luật Bình đẳng giới (2006) nêu rõ các mục tiêu, nguyên tắc, chính sách và biện pháp chung để thúc đẩy bình đẳng giới và xóa bỏ phân biệt đối xử trên cơ sở giới.[4] Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị và tổ chức xã hội và nghề nghiệp được kỳ vọng sẽ phấn đấu đạt được các mục tiêu này, giáo dục các thành viên của mình và thực hiện các biện pháp bổ sung, bao gồm thành lập các cơ sở phúc lợi xã hội và các dịch vụ hỗ trợ.[5]
Để đạt được các mục tiêu nêu trong Luật Bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới (2011-2030)[6] bao gồm các mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể hơn để tăng cường bình đẳng giới ở Việt Nam bao gồm:
● Mục tiêu đến năm 2025 đạt 60% và đến năm 2030 đạt 75% các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ;
● Tỷ lệ lao động nữ hưởng lương tăng lên 50% vào năm 2025 và 60% vào năm 2030;
● Tỷ lệ phụ nữ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp trong tổng số lao động nữ có việc làm giảm xuống dưới 30% vào năm 2025 và xuống dưới 25% vào năm 2030.
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội trước đây nay là Bộ Nội vụ là Cơ quan quản lý nhà nước về Luật Bình đẳng giới (2006) và Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới (2011-2020).
Luật Đất đai (2013 và 2024) quy định quyền sử dụng đất và tài sản như nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ chồng và phải ghi họ tên đầy đủ của cả vợ và chồng vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.[7]
Theo Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật (2015), vấn đề bình đẳng giới phải được lồng ghép vào văn bản quy phạm pháp luật và được xem xét trong quá trình đánh giá tác động.[8] Nghị định số 48/2009/NĐ-CP quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, yêu cầu phải đưa vấn đề bình đẳng giới vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Nghị định này cũng nêu chi tiết các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, bao gồm thông tin, giáo dục, xây dựng văn bản luật mới và xác định các nguồn ngân sách để tài trợ cho các hoạt động này.[9]
[1] Hiến pháp Việt Nam (2013), Điều 26
[2] Luật Bình đẳng giới (2006), Điều 6
[3] NRAP (2017),Quyết định số 419/QĐ-TTg ngày 5/4/2017
[4] Luật Bình đẳng giới (2006), Điều 4, 6, 7 & 19
[5] Luật Bình đẳng giới (2006), Điều 31
[6] Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới 2021-2030
[7] Luật Đất đai (2013 và 2024)
[8] Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật (2015), Điều 5, 35, 69 & 87
[9] Nghị định số 48/2009/NĐ-CP quy định các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới nêu chi tiết các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, Điều 1 & Điều 4-14