B2.4.2. Lợi ích, rủi ro và biện pháp của Chương trình REDD+ Quốc gia liên quan đến bình đẳng giới

B2.4.2. Lợi ích, rủi ro và biện pháp của Chương trình REDD+ Quốc gia liên quan đến bình đẳng giới

Quan điểm 1.4 của Chương trình REDD+ Quốc gia của Việt Nam (NRAP, 2017)[1] nêu rõ rằng các hoạt động REDD+ cần giải quyết các nguyên nhân gây mất rừng và suy thoái rừng, cũng như các vấn đề quản trị rừng, cân nhắc về giới và các biện pháp đảm bảo an toàn REDD+, đảm bảo sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của các bên liên quan, trong đó có phụ nữ. Hướng dẫn quốc gia về xây dựng Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh (PRAPs)[2] cũng yêu cầu các cơ quan lập kế hoạch cấp tỉnh đánh giá các lợi ích và rủi ro tiềm ẩn về xã hội và môi trường trong việc thực hiện các hoạt động REDD+ đã xác định, bao gồm tác động đến các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người già, người nghèo và người đồng bào dân tộc thiểu số.

Những lợi ích và rủi ro tiềm ẩn liên quan đến việc công nhận và tôn trọng quyền đối với đất và đất rừng đã được xác định thông qua quá trình lập kế hoạch REDD+ ở cấp quốc gia và địa phương. Chúng bao gồm đánh giá năm 2017 về các lợi ích và rủi ro tiềm ẩn phát sinh từ NRAP,[3] trong quá trình xây dựng PRAP, Đánh giá môi trường và xã hội chiến lược (SESA) cho FCPF ERP và đánh giá các cân nhắc về môi trường và xã hội cho Dự án Rừng bền vững Quản lý ở Khu vực đầu nguồn Tây Bắc (SUSFORM-NOW) (xem SIS B2.2.2  để biết thêm thông tin).

Đánh giá cấp quốc gia năm 2017 đề xuất một số biện pháp góp phần vào bình đẳng giới, bao gồm quy hoạch sử dụng đất tích hợp và các quy trình tham vấn cho đánh giá môi trường chiến lược/đánh giá tác động môi trường nên tích hợp các thông số xã hội để tránh hoặc giảm thiểu các hạn chế về tiếp cận và sử dụng cũng như mất mát tư liệu sản xuất và sinh kế, đặc biệt chú trọng đến các cộng đồng nghèo nhất, các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số và vấn đề về giới.

Một ví dụ ở cấp địa phương là Kế hoạch hành động về giới của FCPF ERP bao gồm sáu tỉnh ở khu vực Duyên hải Bắc Trung Bộ của Việt Nam, là một phần của Khung quản lý xã hội và môi trường. Mục tiêu của Kế hoạch hành động về giới[4] là thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào chương trình, chia sẻ lợi ích và tối đa hóa bình đẳng giới, đồng thời bao gồm các chỉ số cụ thể về giới để giám sát kết quả và tác động.

Chương trình LEAF được đề xuất, dựa trên các chính sách và biện pháp NRAP, hiện đang trong quá trình tham vấn các bên liên quan, bao gồm các cuộc thảo luận về tác động tiềm tàng. Vòng tham vấn đầu tiên được tổ chức vào tháng 9-tháng 11 năm 2023, 11 cuộc tham vấn cấp tỉnh và 31 cuộc tham vấn cấp tỉnh và xã đã được tổ chức với sự tham gia của hơn 1.700 người, trong đó có 17,5% là phụ nữ.[5]

 

[1] NRAP (2017), Quyết định số 419/QĐ-TTg

[2] Phụ lục 2: Các bước xây dựng PRAP, Quyết định số 5414/2015/QĐ-BNN-TCLN của Bộ NN&PTNT

[3] Richard McNally, Vu Tan Phuong, Nguyen The Chien, Pham Xuan Phuong, Nguyen Viet Dung (2016). The issues and Options support for the revision of Viet Nam’s national REDD+ Action Program (NRAP) 2016-2020

[4] Kế hoạch hành động về lồng ghép giới Chương trình FCPF ERP (2021): https://www.forestcarbonpartngiảm phát thảiship.org/system/files/documents/Action%20Plan%20for%20Gendgiảm phát thải%20Integration%20for%20the%20GIẢM PHÁT THẢI-P.pdf

[5] Báo cáo tham vấn các bên tham gia Chương trình LEAF (2024): https://vnff.vn/en-us/leaf-program/soi-and-others