B2.3.1. Chính sách, luật và các quy định liên quan đến chia sẻ lợi ích
Hiến pháp Việt Nam (2013) quy định đất đai và tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam thuộc về nhân dân và do Nhà nước thống nhất quản lý thay mặt nhân dân và khẳng định các nguyên tắc tiến bộ và bình đẳng xã hội trong cách tiếp cận phát triển kinh tế - xã hội độc lập dựa trên nguồn lực nội tại của mình.[1]
Chiến lược phát triển lâm nghiệp (2006-2020) và Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050[2], thừa nhận vai trò của rừng đối với phát triển nông thôn và giảm nghèo, đặc biệt đối với các dân tộc thiểu số và các nhóm khác phụ thuộc vào đất rừng và tài nguyên rừng để sinh kế. Luật và quy định về lâm nghiệp của Việt Nam công nhận nhiều lợi ích và dịch vụ do rừng mang lại và đưa ra quy định về việc phân phối và phân bổ chúng. Điều này bao gồm cả lợi ích kinh tế trực tiếp từ việc khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ (NTFP) cũng như các dịch vụ môi trường do rừng cung cấp. Nguyên tắc phân bổ công bằng lợi ích phát sinh từ việc sử dụng tài nguyên rừng được áp dụng trong việc thực hiện Chương trình REDD+ Quốc gia và Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh và các chương trình REDD+.
Luật Lâm nghiệp (2017) cho phép một số loại hình khai thác nhất định ở cả ba loại rừng (sử dụng đặc biệt, bảo vệ và sản xuất), cho phép chủ rừng xây dựng kế hoạch và hưởng lợi từ rừng phù hợp với mục đích sử dụng rừng.[3] Điều này bao gồm việc bồi thường cho những người cung cấp dịch vụ hệ sinh thái rừng và các dịch vụ carbon rừng được công nhận là dịch vụ hệ sinh thái rừng.[4] Luật Đa dạng sinh học (2018)[5] cũng nêu rõ rằng các tổ chức và cá nhân hưởng lợi từ việc khai thác và sử dụng đa dạng sinh học phải chia sẻ lợi ích của mình với các bên liên quan.
Các luật và quy định khác hướng dẫn cách phân phối lợi ích từ rừng, tùy thuộc vào loại rừng và lợi ích, bao gồm:
● Nghị định số 156/2018/NĐ-CP của Chính phủ[6] quy định chính sách hưởng lợi từ khai thác lâm sản tại rừng phòng hộ và rừng sản xuất; mọi lâm sản đều được phép khai thác và chủ rừng được hưởng toàn bộ lợi ích từ giá trị lâm sản sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của Nhà nước. Nghị định này cũng quy định chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) một cách chi tiết, trong đó phần lớn nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng được chuyển về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (VNFF) và các VNFF cấp tỉnh, quỹ này được sử dụng để chi trả cho các đối tượng thụ hưởng theo quy định của pháp luật.
● Nghị định số 107/2022/NĐ-CP của Chính phủ[7] về thí điểm chuyển giao kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính các thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính tại vùng Bắc Trung Bộ. Điều 8 quy định chi tiết về chia sẻ lợi ích cho các bên liên quan như VNFF, 6 Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, chủ rừng và Ủy ban nhân dân. Ngoài ra, Bộ NN&PTNT cũng đã ban hành Quyết định số 641/QĐ-BNN-TCLN[8] về kế hoạch chia sẻ lợi ích theo Thỏa thuận chi trả giảm phát thải (ERPA) cho các tỉnh Bắc Trung Bộ.
[1] Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Điều 50 & 53
[2] Chiến lược phát triển lâm nghiệp (2006-2020); Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
[3] Luật Lâm nghiệp (2017), Điều 52-60
[4] Luật Lâm nghiệp (2017), Điều 61 & 62
[5] Luật Đa dạng sinh học 2018
[6] Nghị định số 156/2018/NĐ-CP
[7] Nghị định số 107/2022/NĐ-CP về thí điểm chuyển giao kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính các thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính tại khu vực Bắc Trung Bộ
[8] Quyết định số 641/QĐ-BNN-TCLN ngày 21 tháng 2 năm 2023 về việc ban hành Kế hoạch chia sẻ lợi ích ERPA tại các tỉnh Bắc Trung Bộ