B2.2.4. Hiện trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

B2.2.4. Hiện trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Số lượng Giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng đất (QSDĐ) đã cấp: Số liệu gần đây chỉ bao gồm đất sản xuất nông nghiệp nhưng cho thấy cả nước năm 2020 có 96,9% số hộ sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có GCN.[1]

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình có chủ hộ là nữ: Từ năm 2004 đến năm 2014, GCN QSDĐ chỉ cấp cho nam giới đã giảm. Đất trồng trọt có tên chung tăng từ 11,6% lên 38,3%, trong khi GCN được coi là “chỉ dành cho phụ nữ” giảm từ 17,5% xuống 15,7%. Các loại đất khác, bao gồm cả rừng, từ năm 2004 đến năm 2014, tỷ lệ sở hữu chung tăng từ 13,9% lên 41,4%, trong khi GCN QSDĐ chỉ dành cho phụ nữ giảm từ 14,9% xuống 13,3%.[2] Số liệu gần đây chỉ đề cập đến đất sản xuất nông nghiệp và cho thấy nếu đến năm 2020, 96,9% hộ gia đình có GCN QSDĐ thì 77,5% được cấp cho nam giới, trong khi 19,4% được cấp cho phụ nữ.[1]

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ dân tộc thiểu số: Không có số liệu.

 

[1] Tổng cục Thống kê (2022) Thống kê về giới ở Việt Nam, 2021. https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2023/04/Thong-tin-gioi-VN-2021_final.pdf

[2] Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, được trích dẫn trong Hồ sơ Chất lượng Giới của UN Women (2021): Việt Nam, 2021. https://asiapacific.unwomen.org/sites/default/files/Field%20Office%20ESEAsia/Docs/Publications/2021/10/vn-CGEP_Full.pdf