B2.2.1. Chính sách, luật và các quy định về quyền đối với đất đai, đất lâm nghiệp
Trong bối cảnh REDD+ ở Việt Nam, yếu tố đảm bảo an toàn này có nghĩa là có một khung pháp lý rõ ràng xác định quyền sở hữu, quản lý, tiếp cận và sử dụng rừng, được triển khai trên thực tế nhằm giảm mất rừng và suy thoái rừng cũng như nâng cao trữ lượng các-bon rừng. Các cơ chế quản trị dự kiến sẽ phù hợp, công bằng và bình đẳng, đảm bảo rằng các cộng đồng dân cư nghèo và dễ bị tổn thương phụ thuộc vào rừng nói riêng không bị gạt ra ngoài lề xã hội hoặc bị loại trừ khỏi việc sử dụng đất đai và đất rừng và được phép tiếp cận các lợi ích từ rừng.
Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai và đất rừng được công nhận theo Hiến pháp[1], Luật Đất đai (2013),[2] Luật Đất đai (2024),[3] Nghị định số 43/2014/NĐ-CP,[4] và Nghị định số 101/2024/NĐ-CP.[5]Theo Luật Đất đai, tổ chức, cá nhân có quyền được Nhà nước giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Luật Đất đai (2013 và 2024), Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 102/2024/NĐ-CP[6] cũng đưa ra khuôn khổ pháp lý cho quy hoạch sử dụng đất, bao gồm các cơ hội giải quyết các mối quan ngại khi việc thay đổi mục đích sử dụng đất có thể ảnh hưởng đến đất rừng hoặc người sở hữu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện có, bao gồm hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng. Để bảo đảm tốt hơn quyền sử dụng đất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, Nghị định số 10/2023/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 43/2014/NĐ-CP[7] đã bổ sung thêm điều kiện chuyển đổi đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang mục đích khác áp dụng cho dự án đầu tư.
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP[8] quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy định chi tiết, trình tự, thủ tục và định giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm cho người lao động bị Nhà nước thu hồi đất quy định thêm chế độ hỗ trợ cho người dân bị Nhà nước thu hồi đất.[9]
Trường hợp đất Nhà nước thu hồi là đất rừng thì việc bồi thường được quy định theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004) và Luật Lâm nghiệp (2017), trong đó có quy định chi tiết theo luật định và có thể bao gồm cả việc giao hoặc cho thuê diện tích rừng khác.
Theo Luật Lâm nghiệp (2017) và các văn bản hướng dẫn liên quan, chủ rừng có quyền được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định của pháp luật. Nghị định số 168/2016/NĐ-CP[10] cũng quy định hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được nhận khoán rừng từ chủ rừng (ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp). Khoản 8 Điều 14 Luật Lâm nghiệp (2017) quy định tôn trọng không gian sống, phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư, ưu tiên giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có phong tục, tập quán, văn hóa, tín ngưỡng, truyền thống gắn liền với rừng, có hương ước, quy ước phù hợp với quy định của pháp luật. Điều 73 cũng quy định chủ rừng được hợp tác, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để bảo vệ, phát triển rừng, làm cơ sở cho quản lý rừng hợp tác.
Luật Lâm nghiệp (2017) quy định việc giao đất lâm nghiệp có rừng như sau:
● Rừng đặc dụng (RĐD) được giao cho Ban quản lý RĐD, tổ chức khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, đào tạo nghề lâm nghiệp; cộng đồng dân cư; tổ chức kinh tế.
● Rừng phòng hộ được giao cho Ban quản lý RĐD, đơn vị vũ trang, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức kinh tế. Trường hợp rừng phòng hộ không có ban quản lý thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao đất rừng này để thực hiện hoạt động bảo vệ, phát triển rừng, nhưng không được thế chấp. Đối với RĐD cũng áp dụng quy định tương tự.
● Rừng sản xuất được giao không thu tiền cho hộ gia đình, cá nhân và cho Ban quản lý RĐD, BQL RĐD có đất rừng sản xuất trên địa bàn. Nhà nước cũng cho các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân thuê rừng sản xuất là rừng tự nhiên, rừng trồng và thu tiền thuê đất theo hình thức trả một lần hoặc hàng năm.
Khung pháp lý của Việt Nam cũng bao gồm việc lập bản đồ và kiểm kê rừng, đất đai và các quyền liên quan đến những thứ này. Điều 30 của Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng quy định hệ quy chiếu và tỷ lệ được sử dụng cho bản đồ kết quả kiểm kê rừng. Tại Điều 35, việc theo dõi biến động diện tích rừng của chủ rừng được quy định theo Điều 8 của Luật Lâm nghiệp (2017), và do Ủy ban nhân dân xã quản lý.[11]
Theo Luật Đất đai (2013 và 2024), các bộ, ngành và cơ quan liên quan có trách nhiệm cung cấp kết quả điều tra cơ bản về đất đai và các thông tin, dữ liệu khác liên quan đến đất đai cho Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) để cập nhật cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia và hệ thống thông tin đất đai.
[1] Hiến pháp Việt Nam (2013), Điều 53
[2] Luật Đất đai (2013) (Luật số 45/2013/QH13)
[3] Luật Đất đai (2024)(Luật số 31/2024/QH15) ngày 18 tháng 01 năm 2024.
[4] Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (2013)
[5] Nghị định số 101/2024/NĐ-CP Quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai.
[6] Nghị định số 10/2023/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 43/2014/NĐ-CP
[7] Nghị định số 102/2024/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đất đai năm (2024).
[8] Nghị định số 47/2014/NĐ-CP
[9] Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg
[10] Nghị định số 168/2016/NĐ-CP
[11] Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT; Thông tư số 16/2023/TT-BNNPTNT sửa đổi bổ sung một số điều Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT