B1.3.2. Tài trợ và chi tiêu REDD+
Dữ liệu hiện có về tài trợ và chi tiêu cho REDD+ được tóm tắt sau đây.
Nguồn vốn tài trợ quốc tế:
● Trong giai đoạn 2009-2014, tổng tài chính cam kết là 84,31 triệu USD. Trong số 44 dự án được tài trợ, ba dự án tập trung vào giảm phát thải khí nhà kính (11,826 triệu USD hỗ trợ kinh phí) và 9 dự án tập trung vào chuẩn bị thực hiện REDD+ (tổng cộng 72,28 triệu USD). Khoản tài trợ nhiều nhất được cam kết trong năm 2012 (48,4 triệu USD), khoản thấp nhất là vào năm 2014 (0,8 triệu USD); 4 năm còn lại nhận được hỗ trợ tài chính trung bình 8.8 triệu USD mỗi năm.[1]
● Tài trợ hỗ trợ giai đoạn Sẵn sàng của REDD+ tại Việt Nam theo dự án FCPF-2 (2016-2020) là 5.693.000 đô la Mỹ.[2]
● Tổng cộng 10.178.253 đô la Mỹ đã được tài trợ theo Đề xuất chuẩn bị sẵn sàng (R-PP) của quỹ FCPF và 677.513 đô la Mỹ để thực hiện các hoạt động liên quan đến Chương trình giảm phát thải của FCPF.[3]
Nguồn vốn ngân sách nhà nước:
● Báo cáo của Bộ NN&PTNT (năm 2020)[4] về đánh giá thực hiện Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 cho thấy, trong giai đoạn 2016-2020, tổng chi cho ngành lâm nghiệp là 54.336 tỷ đồng, trong đó: ngân sách nhà nước bố trí 9.520 tỷ đồng, tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) bố trí 11.533 tỷ đồng, tiền thuê đất trồng rừng bố trí 1.375 tỷ đồng, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) bố trí 3.085 tỷ đồng, các nguồn vốn khác bố trí 28.823 tỷ đồng.
● Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021-2025 có tổng kinh phí là 90,826 tỷ đồng (trong đó ngân sách nhà nước bố trí 13.470 tỷ đồng, ngân sách khác bố trí 77,357 tỷ đồng).[5]
● Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I (2021 đến 2025)[6] gồm Đề án 3: Phát triển bền vững kinh tế nông lâm nghiệp, tiểu đề án 1, tổng kinh phí 13.835,3 tỷ đồng; và tiểu đề án 2: Hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, vùng trồng dược liệu quý, tổng kinh phí 20.061 tỷ đồng.
Nguồn kinh phí địa phương:
Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ ba của Việt Nam (BUR) [7] cho UNFCCC cung cấp thông tin về tài trợ liên quan đến REDD+ ở cấp địa phương, bao gồm:
● Dự án tái trồng rừng REDD+. Vườn quốc gia Cát Tiên (2017-2020): 1.924.286 đô la Mỹ.
● Phục hồi cảnh quan rừng trong khuôn khổ REDD+ thông qua sự hợp tác giữa cộng đồng và doanh nghiệp: Rút kinh nghiệm từ các nước Đông Nam Á (2017-2022): 2.549.481 đô la Mỹ.
● Vận hành REDD+ thông qua quan hệ đối tác công tư vì cảnh quan bền vững ở Lâm Đồng: 2.007.546 đô la Mỹ.
Đến nay đã có 22 tỉnh ban hành PRAP, tuy nhiên, dữ liệu chi tiêu cho PRAP hiện vẫn chưa có.
[1] Nguyễn Thu Thủy và Những người khác (2019). https://www.cifor-icraf.org/publications/pdf_files/OccPapers/OP-191.pdf
[2] Văn bản FCPF ERP (2018): https://www.forestcarbonpartngiảm phát thảiship.org/system/files/documents/Completion%20GRM_Vietnam.pdf
[3] Báo cáo tiến độ hàng năm của FCPF REDD+ 2016-2017: https://www.forestcarbonpartnership.org/system/files/documents/VN%20FCPF%20Country%20Progress%20Report%20July%2014%202017_FINAL.pdf
[4] https://www.mard.gov.vn/VanBanLayYKien/VBPLFile/BC-CL-2020-2050.pdf
[5] Bộ NN&MT (2025). Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021-2025.
[6] Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14 tháng 10 năm 2021 về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025
[7] BUR 3 của Việt Nam (2021): https://unfccc.int/documents/273504