B1.3.1. Quản lý nguồn tài chính REDD+
Như đã mô tả trong SIS B1.2.1, Việt Nam đã thành lập các tổ chức chuyên trách có năng lực thúc đẩy tính minh bạch của các hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp, bao gồm giám sát và theo dõi các quỹ. Ngân sách lâm nghiệp sẽ được giám sát chặt chẽ thông qua một quy trình của quốc hội và chính phủ, và thông tin về ngân sách của các cơ quan lâm nghiệp phải được công khai. Việc giám sát công khai các dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách và các quyết định quy hoạch sử dụng đất cũng được đề cập trong Luật Phòng, chống tham nhũng (2018).[1] Khi các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét và phê duyệt các dự án và ngân sách nhà nước, thì phải cung cấp các giải thích/biện minh và phải kiểm toán ngân sách.[2]
Chương trình hành động REDD+ quốc gia (NRAP, 2017)[3] nêu rõ tính minh bạch của các nguồn tài chính và tổ chức thực hiện REDD+ phải được đảm bảo, để có thể cho phép các bên liên quan bao gồm các cơ quan chính phủ, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức phi chính phủ và các bên quốc tế tham gia. NRAP nêu rõ nguồn tài trợ dự kiến sau đây trong giai đoạn 2017-2020:
a) Nguồn vốn trong nước:
● Ngân sách nhà nước phân bổ cho các Chương trình mục tiêu có liên quan về: phát triển rừng bền vững; ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh; giáo dục, đào tạo nghề và an toàn lao động; tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp; phòng chống và giảm nhẹ thiên tai; ổn định đời sống dân cư; và các chương trình, dự án quốc gia khác trong giai đoạn 2016-2020.
● Đầu tư của các doanh nghiệp và các tác nhân kinh tế khác thông qua các cơ chế thị trường khác nhau; tiền thu được từ các chính sách trồng rừng thay thế và đóng góp của các chương trình, dự án và cá nhân có liên quan khác.
● Vay và tín dụng (bao gồm cả các khoản vay thương mại và đầu tư phát triển).
b) Nguồn vốn quốc tế: Nguồn hỗ trợ phát triển và quỹ ủy thác của các quốc gia khác, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp và cá nhân và các tổ chức tài chính khác; doanh thu nhận được từ hoạt động REDD+, bao gồm doanh thu từ các chương trình giao dịch tín chỉ các-bon rừng.
c) Các nguồn vốn hợp pháp khác.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Tài chính được yêu cầu thành lập Quỹ REDD+ quốc gia của Việt Nam và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài Chính) được giao nhiệm vụ phối hợp với Bộ Tài chính để phân bổ vốn đối ứng cho các dự án thực hiện NRAP.,
Việt Nam thành lập VNFF vào năm 2008.[4] thực tiến hiện nay Quỹ BV&PTR Việt Nam đang nhận nguồn thu từ REDD+ trên cơ sở các thỏa thuận chuyển giao giảm phát thải được ký kết giữa Việt Nam và các đối tác quốc tế (ví dụ như Chương trình FCPF bắc trung bộ) và điều phối các quỹ với các Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh (sau khi khấu trừ chi phí quản lý quỹ và chi phí vận hành chương trình) dựa trên kết quả giảm phát thải của từng tỉnh. Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh (sau khi khấu trừ chi phí quản lý quỹ của họ) sẽ trả tiền cho những người thụ hưởng (xem SIS B2.3 về chia sẻ lợi ích để biết thêm thông tin). VNFF cũng thực hiện chương trình Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), đã thu được hơn 31.089 tỷ đồng (khoảng 1,24 tỷ đô la Mỹ) trong giai đoạn 2011-2024.[5]
[1] Luật Đất đai (2024), Điều 60
[2] Luật Ngân sách nhà nước (2015), Điều 15 & 23https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=180627&classid=1&typegroupid=3
[3] NRAP (2017), Quyết định số 419/QĐ-TTg ngày 5 tháng 4 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ
[4] Quyết định số 114/2008/QĐ-BNN của Bộ NN & PTNT về việc thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam
[5] Số liệu tổng hợp từ các thông báo/thống kê của Bộ NN&PTNT và Bộ NN&MT