B1.2.2. Lợi ích, rủi ro và biện pháp của Chương trình REDD+ Quốc gia liên quan đến trách nhiệm giải trình và kiểm soát tham nhũng
Một số rủi ro liên quan đến trách nhiệm giải trình và kiểm soát tham nhũng đã được xác định thông qua các quy trình lập kế hoạch REDD+ ở cấp quốc gia và cấp địa phương. Đánh giá[1] về các lợi ích và rủi ro tiềm ẩn phát sinh từ các chính sách và biện pháp của Chương trình REDD+ quốc gia[2] đã xác định các rủi ro trong lĩnh vực này tập trung vào khả năng 'chiếm đoạt' các quy trình và/hoặc lợi ích của REDD+ của nhóm lợi ích. Ví dụ, các rủi ro đó có thể bao gồm:
- Các tác động xã hội và môi trường không được đánh giá hoặc thiếu minh bạch trong quá trình tham vấn Đánh giá tác động môi trường (ĐTM), đặc biệt là thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương;
- Các cơ chế tài chính (như hỗ trợ đầu tư bảo vệ rừng) có thể ưu tiên cho các tổ chức và doanh nghiệp nhà nước, trong khi nguồn vốn bảo vệ rừng cho các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư bị hạn chế.
Đánh giá NRAP ở cấp quốc gia đưa ra một số biện pháp được đề xuất để giải quyết các rủi ro đã xác định liên quan đến kiểm soát trách nhiệm giải trình/tham nhũng, đặc biệt là việc thâu tóm nhóm lợi ích, bao gồm:
- Đảm bảo các quy trình tham vấn toàn diện, có sự tham gia và minh bạch, với các hướng dẫn rõ ràng về việc lựa chọn đại diện, tính toàn diện và chia sẻ/tiết lộ thông tin.
- Xây dựng các chính sách, nguyên tắc, quy trình vận hành tiêu chuẩn và hướng dẫn rõ ràng cho các cơ chế tài chính và mô hình kinh doanh, nhằm tăng cường lợi ích chung về mặt xã hội và giải quyết các rủi ro xã hội; cần tập trung vào việc phát triển và vận hành các biện pháp ĐBAT để bảo vệ cộng đồng nông thôn và những người nông dân nhỏ tham gia sản xuất các mặt hàng nông sản chủ lực.
- Làm rõ và triển khai các thủ tục phân bổ đất rừng để giải quyết các vấn đề bất bình đẳng và bất công, đồng thời tăng cường các tác động xã hội tích cực; cần xây dựng năng lực cho các cơ quan thực hiện của khu vực công (ví dụ: ban quản lý rừng, cơ quan khuyến nông) về các biện pháp và quy trình bảo vệ.
Ngoài ra, Cơ chế giải quyết khiếu nại (GRM) liên quan đến REDD+ tại Việt Nam dự kiến sẽ giải quyết các khiếu nại và tranh chấp liên quan đến các vấn đề về trách nhiệm giải trình, tham nhũng và sự thâu tóm của nhóm lợi ích (xem SIS B.2.6). Các quy trình hiện hành để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc chia sẻ lợi ích cũng được đề cập trong SIS B.2.3.
Ở cấp độ vùng/địa phương, cần phải phân tích các rủi ro và lợi ích về mặt xã hội và môi trường để xây dựng Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh (PRAP).[3] Tại các địa điểm dưới quốc gia cụ thể, các đánh giá cũng đã được thực hiện thông qua Đánh giá môi trường và xã hội chiến lược (SESA) trong quá trình xây dựng Chương trình giảm phát thải FCPF ERP tại Vùng duyên hải Bắc Trung Bộ của Việt Nam và thông qua đánh giá các cân nhắc về môi trường và xã hội cho Dự án quản lý rừng bền vững tại lưu vực Tây Bắc (SUSFORM-NOW) do Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ. Ví dụ, SESA và ESMF của FCPF ERP xác định một số rủi ro liên quan đến 'việc chiếm đoạt của giới tinh hoa', ví dụ như lợi ích của REDD+ và khả năng tiếp cận tài nguyên rừng.[4]
| [1] | Tóm tắt từ đánh giá năm 2018 về các lợi ích và rủi ro tiềm ẩn phát sinh từ NRAP và FCPF ERP. https://sis.kiemlam.gov.vn/web/guest/library/-/document_library/iXuUrTYhhdKx/view_file/75422 |
| [2] | NRAP 2017, Quyết định số 419/QĐ-TTg ngày 5/4/2017 |
| [3] | Chương 3, Quyết định số 5414/2015/QĐ-BNN-TCLN của Bộ NN & PTNT. |
| [4] | Quỹ Carbon của Cơ sở Đối tác Carbon Rừng (FCPF). Văn bản Chương trình Giảm phát thải (ERPD). Ngày nộp: 5 tháng 1 năm 2018. https://documents.worldbank.org/en/publication/documents-reports/documentdetail/099084503102317187/p1626050ba39050d5089ad0e55dd7827da1 |