B1.2.1. Chính sách, luật và quy định về trách nhiệm giải trình và kiểm soát tham nhũng

B1.2.1. Chính sách, luật và quy định về trách nhiệm giải trình và kiểm soát tham nhũng

Trong luật pháp Việt Nam, trách nhiệm giải trình có thể được hiểu là “việc các cơ quan nhà nước cung cấp thông tin về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao”.[1] Rộng hơn, trách nhiệm giải trình liên quan đến tính minh bạch của các hoạt động của các cơ quan, tổ chức và đơn vị công, với mục đích đảm bảo cách tiếp cận dân chủ đối với quản lý nhà nước, thừa nhận rằng xã hội có vai trò giám sát.[2] Việt Nam đã thành lập các tổ chức chuyên trách có năng lực thúc đẩy tính minh bạch của các hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp, bao gồm giám sát và theo dõi các quỹ.

Luật Kiểm toán nhà nước (năm 2015)[3] nhằm đánh giá, xác nhận tính đúng đắn, trung thực của thông tin tài chính công, tài sản công hoặc báo cáo tài chính liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; báo cáo kiểm toán phản ánh mức độ tuân thủ pháp luật của tổ chức, hiệu quả quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.

Luật Phòng, chống tham nhũng (năm 2018) quy định về tham nhũng và hành vi tham nhũng, quy định việc xây dựng quy tắc ứng xử của công chức và quy định nghĩa vụ kê khai tài sản của công chức ở một cấp bậc nhất định (Điều 34), quy định mọi công chức đều phải tố cáo hành vi tham nhũng khi bị phát hiện (Điều 66).[4] Ngoài ra, kê khai tài sản, thu nhập, kể cả quyền sử dụng đất (Điều 35). Theo Điều 5, mọi công dân theo quy định của pháp luật đều có quyền phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng, quyền được bảo vệ, khen thưởng; quyền kiến nghị sửa đổi luật phòng, chống tham nhũng và giám sát việc thực hiện. Cơ quan tiếp nhận tố cáo phải kịp thời xử lý thông tin và thực hiện các biện pháp bảo vệ người tố cáo. Việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của Luật Tố cáo (năm 2018) và Luật Tố tụng hành chính (năm 2015).[5] Cơ quan nhà nước có trách nhiệm lập báo cáo hằng năm về công tác phòng, chống tham nhũng (Điều 84 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018).

Có một số cơ quan chịu trách nhiệm phối hợp, thanh tra và thúc đẩy các nỗ lực phòng, chống tham nhũng ở các cấp khác nhau, bao gồm các Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng Trung ương và tỉnh; Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội; Ban thanh tra nhân dân các cấp; Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh. Kiểm toán Nhà nước có trách nhiệm tổ chức các chức năng thanh tra để phòng ngừa và phát hiện các hoạt động tham nhũng trong hoạt động của chính phủ. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo việc truy tố các tội phạm liên quan đến tham nhũng. Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm giải quyết tố cáo/khiếu nại:

Cơ quan tiếp nhận thanh tra có trách nhiệm xác minh thông tin, xử lý theo thẩm quyền và thông báo kết quả cho cơ quan, tổ chức yêu cầu.

  • Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền khác thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, điều tra vụ việc tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng, đề xuất.
  • Kiểm toán Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện chức năng kiểm toán nhằm ngăn ngừa và phát hiện các hành vi tham nhũng trong hoạt động của chính phủ.
  • Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo việc truy tố các tội phạm liên quan đến tham nhũng.
  • Ủy ban Nhân dân các tỉnh chịu trách nhiệm giải quyết tố cáo/khiếu nại.
  • Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng có trách nhiệm chỉ đạo, điều phối, kiểm tra và thúc đẩy công tác phòng, chống tham nhũng trên phạm vi toàn quốc.
  • Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát công tác phòng, chống tham nhũng trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền.
  • Ban Thanh tra Nhân dân các cấp giám sát công tác phòng, chống tham nhũng tại địa phương. Công dân tự nguyện hoặc thông qua Thanh tra Nhân dân, Ban Giám sát Đầu tư Công hoặc tổ chức của mình tham gia vào hoạt động phòng, chống tham nhũng.
  • Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, Thanh tra tỉnh, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng (Điều 80 Luật Phòng, chống tham nhũng). Trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng khen thưởng người tố cáo tham nhũng (Điều 74 Luật Phòng, chống tham nhũng).

Theo Điều 16 Luật Phòng, chống tham nhũng (năm 2018), hằng năm, Chính phủ báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước về công tác quản lý giải quyết tố cáo và thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Chính phủ về công tác quản lý giải quyết tố cáo của đơn vị mình theo định kỳ hoặc khi có yêu cầu. Ủy ban nhân dân các cấp báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý, thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Việt Nam cũng đã thiết lập các thể chế và thủ tục để thúc đẩy tính minh bạch của các hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp nói riêng, bao gồm giám sát và theo dõi các quỹ. Ví dụ, Quỹ Phát triển và Bảo vệ Rừng Việt Nam (VNFF) đã thành lập Ban Kiểm soát Quỹ.[6] Ngoài ra, ngân sách lâm nghiệp phải được xem xét cẩn thận theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước (2015)[7] và thông tin phải được công bố công khai. Vụ Tài chính thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Tổng Kiểm toán Nhà nước cũng thúc đẩy minh bạch điện tử trong các hoạt động lâm nghiệp thông qua việc theo dõi và giám sát các nguồn vốn. Nghị định của Chính phủ về Hệ thống đảm bảo tính hợp pháp của gỗ Việt Nam (2020)[8] quy định trách nhiệm giải trình của chủ sở hữu gỗ khi nhập khẩu gỗ để đảm bảo tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ nhập khẩu.

[1] Nghị định số 90/2013/NĐ-CP của Chính phủ, Điều 3(1)
[2] Nguyễn Tuấn Khánh ‘Hoàn thiện cơ sở pháp lý về trách nhiệm giải trình’, http://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201309/hoan-thien-co-so-phap-ly-ve-trach-nhiem-giai-trinh-292197/, ngày 18 tháng 11 năm 2013
[3] Luật Kiểm toán Nhà nước (2015) (Luật số 81/2015/QH13) https://chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=180628
[4] Luật Phòng, chống tham nhũng (2018) (Luật số 36/2018/QH14) https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=206104
[5] Luật Tố cáo (Luật số 25/2018/QH148), https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=206115&classid=1&typegroupid=3; và Luật Tố tụng Hành chính (Luật số 93/2015/QH13)
[6] Quyết định số 3618/QĐ-BNN-TCCB về tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam
[7] Luật Ngân sách Nhà nước (2015) https://chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=180627
[8] Nghị định số 102/2020/NĐ-CP về Hệ thống Bảo đảm Gỗ hợp pháp Việt Nam