E5.1.1. Chính sách, luật và quy định liên quan đến nâng cao lợi ích xã hội và môi trường từ rừng
Trong bối cảnh Việt Nam, yếu tố đảm bảo an toàn E5 này được hiểu là việc xây dựng và thực hiện các chính sách và biện pháp nhằm nâng cao những đóng góp (hoặc lợi ích) về mặt xã hội-văn hóa, kinh tế, sinh thái, sinh học, khí hậu và môi trường do tài nguyên rừng mang lại. Các chính sách và biện pháp (PaM) của Chương trình Hành động REDD+ Quốc gia của Việt Nam hướng đến việc nâng cao cả lợi ích về môi trường và xã hội.
Khung đảm bảo an toàn quốc gia của Việt Nam bao gồm việc đánh giá lợi ích và rủi ro của các hoạt động REDD+ và tìm cách thúc đẩy lợi ích. Việt Nam đã có khung pháp lý và quy trình đánh giá lợi ích, rủi ro về xã hội và môi trường cũng như thúc đẩy lợi ích trong ngành lâm nghiệp.
Luật Lâm nghiệp (2017) yêu cầu “quản lý, khai thác và sử dụng rừng bền vững phải đi đôi với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên cũng như nâng cao các giá trị kinh tế, văn hóa, lịch sử của rừng, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và cải thiện sinh kế của người dân". Ngoài ra, Luật này đã quy định 5 dịch vụ môi trường rừng để huy động sự đóng góp tài chính của các doanh nghiệp, tạo nguồn tài chính bền vững giữa người cung ứng dịch vụ (các chủ rừng) và các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ môi trường rừng (nhà máy thủy điện, cơ sở sản xuất và cung cấp nước sạch, cơ sở sản xuất công nghiệp...), góp phần tăng giá trị của rừng, cải thiện sinh kế; nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân.
Chương trình Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng[1] tập trung vào quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và giá trị dịch vụ môi trường rừng. Mục tiêu của chương trình là thúc đẩy chứng chỉ rừng nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế về nguồn gốc gỗ hợp pháp; tạo nguồn nguyên liệu gỗ trồng trong rừng để thực hiện quản lý rừng bền vững, đáp ứng ít nhất 80% nhu cầu sản xuất đồ gỗ xuất khẩu; nâng cao giá trị gỗ rừng trồng, góp phần xóa đói giảm nghèo và tăng giá trị gia tăng cho ngành lâm nghiệp.
Khung chính sách của Việt Nam, bao gồm Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050;[2] Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;[3] Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14 tháng 10 năm 2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi ở giai đoạn 2021-2030;[4] Thông tư số 12/2022/TT-BNNPTNT ngày 20/9/2022 của MARD hướng dẫn một số hoạt động lâm nghiệp thực hiện Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững và Chương trình mục tiêu phát triển quốc gia các vùng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vùng cao giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ 2021 đến 2025, nhấn mạnh ngành lâm nghiệp phải góp phần tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường; mở rộng các các loại dịch vụ môi trường rừng.
Quyết định số 208/QĐ-TTg ngày 29/02/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050,[5] trong đó nhấn mạnh đến phát triển bền vững nguồn cung nguyên liệu gỗ, tăng giá trị lâm sản ngoài gỗ, dược liệu; sản xuất nông, lâm, ngư kết hợp hiệu quả, bền vững; mở rộng dịch vụ môi trường rừng, trong đó có dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon, kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; du lịch cộng đồng.
[1] Quyết định số 1288/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2018 về Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
[2] Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 14 tháng 02 năm 2022 về Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050
[3] Quyết định số 523/QĐ-TTg ngày 01 tháng 04 năm 2021 về Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2021-2030
[4] Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14 tháng 10 năm 2021 về Chương trình mục tiêu quốc gia vùng kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
[5] Quyết định số 208/QĐ-TTg ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển giá trị sử dụng đa dụng của hệ sinh thái rừng đến năm 2030.