E3.1.2. Lợi ích, rủi ro và biện pháp của Chương trình REDD+ Quốc gia nhằm bảo tồn rừng tự nhiên và đa dạng sinh học

E3.1.2. Lợi ích, rủi ro và biện pháp của Chương trình REDD+ Quốc gia nhằm bảo tồn rừng tự nhiên và đa dạng sinh học

Nguyên tắc và mục tiêu cụ thể của Chương trình quốc gia về REDD+ của Việt Nam (2017)[1] đề cập đến việc bảo tồn và tăng cường rừng tự nhiên. Ví dụ, một trong những mục tiêu của giai đoạn 2017-2020 là ‘nâng cao chất lượng rừng tự nhiên và rừng trồng để tăng trữ lượng các-bon và dịch vụ môi trường rừng, nhân rộng các mô hình trồng rừng hiệu quả, quản lý, bảo vệ và bảo tồn rừng tự nhiên bền vững.’’

Trong bối cảnh thúc đẩy bảo tồn thông qua REDD+, các biện pháp NRAP hướng tới bảo tồn rừng tự nhiên và dự kiến sẽ hỗ trợ bảo tồn đa dạng sinh học rừng và các dịch vụ hệ sinh thái bao gồm:

  • Tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh để đạt mục tiêu 16,24 triệu ha vào năm 2020, trong đó có việc thúc đẩy đánh giá tác động môi trường;
  • Thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản bền vững, không phá rừng, như thí điểm và nhân rộng các mô hình bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu cho nuôi trồng thủy sản, cà phê, cao su và sắn;
  • Thí điểm, đánh giá và nhân rộng các mô hình bền vững về tăng cường, bảo vệ và bảo tồn rừng tự nhiên, bao gồm cả rừng sản xuất tự nhiên và rừng đặc dụng, cũng như phục hồi và làm giàu rừng bằng các loài bản địa; và
  • Cải thiện môi trường kinh tế và tài chính cho rừng, bao gồm việc định giá kinh tế rừng và lồng ghép giá trị rừng vào các quy trình tài chính quốc gia (ví dụ: GDP).

Các lợi ích và rủi ro tiềm tàng của các PaM NRAP đã được đánh giá,[2] và các biện pháp giảm thiểu đã được đề xuất, bao gồm cả những biện pháp liên quan đến bảo tồn rừng tự nhiên và đa dạng sinh học. Một số lợi ích và rủi ro chính được xác định bao gồm:

  • Việc phân bổ đất lâm nghiệp và các phương pháp quản lý rừng hợp tác có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đến việc bảo vệ rừng và hợp pháp hóa việc sử dụng rừng và đất lâm nghiệp không bền vững;
  • Các mô hình kinh doanh lâm sản ngoài gỗ có thể dẫn đến khai thác quá mức và/hoặc suy thoái và/hoặc nạn phá rừng;
  • Việc thiếu chăm hoặc bỏ hoang các diện tích rừng ven biển trong các khu rừng phòng hộ/rừng đặc dụng;
  • Ngập lụt ở rừng tràm có thể dẫn đến những tác động bất lợi đến đa dạng sinh học và phát thải khí nhà kính;
  • Nguy cơ suy thoái đất, nước và đa dạng sinh học liên quan đến việc sử dụng hóa chất nông nghiệp để cải thiện năng suất.

Một số biện pháp giảm thiểu rủi ro và tăng cường lợi ích đã được xác định bao gồm:

  • Bảo tồn và bảo vệ rừng tự nhiên cần được ưu tiên trong quá trình quy hoạch sử dụng đất, áp dụng Đánh giá Môi trường Chiến lược (ĐMC) và đảm bảo các công cụ hỗ trợ ra quyết định cho REDD+ lồng ghép các giá trị đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái;
  • Các cơ chế tài chính xanh cần bao gồm các biện pháp bảo vệ môi trường rõ ràng, ví dụ như sàng lọc các khoản đầu tư được đề xuất, thực hiện kiểm tra thẩm định và giám sát;
  • Cần tiến hành kiểm kê về hiện trạng ban đầu diện tích rừng được giao, cũng như các nghiên cứu để tìm hiểu về các thỏa thuận sở hữu, tình trạng nghèo đói, sự phụ thuộc/sử dụng rừng và tính dễ bị tổn thương. Cần thực hiện lập bản đồ có sự tham gia và tham vấn về giao đất rừng và các lựa chọn đồng quản lý, bao gồm cả việc thúc đẩy phân bổ cho các nhóm cộng đồng, nếu có thể;
  • Các mô hình bền vững được xác định cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản cần tích hợp các biện pháp giảm thiểu việc sử dụng hóa chất nông nghiệp và nước;
  • Các mô hình kinh doanh lâm sản ngoài gỗ và các biện pháp liên quan cần thúc đẩy bảo vệ và tăng cường rừng tự nhiên; cần xây dựng các quy trình sàng lọc để loại bỏ các khoản đầu tư không phù hợp;
  • Các biện pháp quản lý rừng bền vững và chứng nhận cho rừng trồng cần được thúc đẩy thông qua việc cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ tư vấn.

Ở cấp địa phương, việc đánh giá các lợi ích và rủi ro tiềm ẩn cũng cần thiết trong quá trình xây dựng Kế hoạch Hành động REDD+ cấp tỉnh, bao gồm cả việc xem xét đa dạng sinh học.[3] Các đánh giá về lợi ích và rủi ro môi trường và xã hội của REDD+ tại các địa điểm cụ thể ở địa phương cũng đã được thực hiện thông qua Đánh giá Môi trường và Xã hội Chiến lược (SESA) của Quỹ Đối tác Carbon Rừng (FCPF),[4] và thông qua đánh giá các Cân nhắc về Môi trường và Xã hội cho dự án SUSFORM-NOW. Tóm tắt về các lợi ích phi các-bon của Chương trình Giảm Phát thải FCPF cũng được thể hiện tại SIS E5.1.2.

Chương trình Giảm Phát thải ở khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, hay còn gọi là Chương trình LEAF, sẽ dựa trên các chính sách và biện pháp của NRAP, đã được đánh giá về các lợi ích và rủi ro tiềm ẩn (xem ở trên). Năm tỉnh trong khu vực đã ban hành Kế hoạch Hành động REDD+ cấp tỉnh và do đó đã xác định được các lợi ích và rủi ro trước đó. Quy trình tham vấn cho Chương trình cũng bao gồm thảo luận với các bên liên quan về các tác động tiềm ẩn của Chương trình.

 

[1] Quyết định số 419/QĐ-TTg ngày 5 tháng 4 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành NRAP

[2] Tóm tắt đánh giá các lợi ích và rủi ro tiềm ẩn phát sinh từ NRAP: https://sis.kiemlam.gov.vn/web/guest/library/-/document_library/iXuUrTYhhdKx/view_file/75422

[3] Quyết định số 5414/QĐ-BNN-TCLN ngày 25 tháng 12 năm 2015 về hướng dẫn xây dựng PRAP

[4] Chi tiết tại: https://documents1.worldbank.org/curated/es/290961551691496606/pdf/Danh-gia-chien-luoc-moi-truong-va-xa-hoi.pdf