E3.1.1. Chính sách, luật và quy định về bảo tồn

E3.1.1. Chính sách, luật và quy định về bảo tồn

Việt Nam đã có khung pháp lý, bao gồm các hiệp ước và thỏa thuận được phê chuẩn, hỗ trợ bảo tồn rừng tự nhiên, đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái (BES), cũng như các tài liệu và quy trình liên quan đến sự đóng góp của REDD+ vào công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.

Theo Luật Đa dạng sinh học (năm 2008 và 2018), việc bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng và đặc thù được ưu tiên. Các mục tiêu và chỉ tiêu rõ ràng về bảo tồn đa dạng sinh học được nêu trong Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050,[1] với mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống di sản thiên nhiên và khu bảo tồn thiên nhiên. Các mục tiêu bao gồm: Mở rộng và nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống các di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên bảo đảm đạt được các chỉ tiêu cơ bản sau: diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên trên đất liền phấn đấu đạt 9% diện tích lãnh thổ đất liền; diện tích các vùng biển, ven biển được bảo tồn đạt từ 3 - 5% diện tích vùng biển tự nhiên của quốc gia; 70% khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên được đánh giá hiệu quả quản lý; các khu vực tự nhiên được quốc tế công nhận: 15 khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (khu Ramsar), 14 khu dự trữ sinh quyển, 15 vườn di sản ASEAN; tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc duy trì ổn định từ 42% - 43%; phục hồi được ít nhất 20% diện tích hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái; không còn loài hoang dã nào bị tuyệt chủng; cải thiện tình trạng quần thể của ít nhất 10 loài nguy cấp, quý, hiếm,... Quy hoạch lâm nghiệp phải phù hợp với Chiến lược.[2]

Quy hoạch tổng thể quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050[3] cũng đặt ra các mục tiêu về môi trường đến năm 2030 như: tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42%; tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên; bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng; diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt 3-5% diện tích vùng biển quốc gia; diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn đạt 3 triệu ha.

Một số luật và quy định mới cũng tập trung vào việc mở rộng phạm vi bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên và đa dạng sinh học, chẳng hạn như: Luật Bảo vệ Môi trường (2020) và các văn bản liên quan bao gồm Nghị định số 8/2022/NĐ-CP về quy định chi tiết một số điều của Luật và Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật.

Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050[4] với mục tiêu quản lý chặt chẽ và bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có, phục hồi và nâng cao chất lượng rừng tự nhiên để bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng và cung cấp các dịch vụ môi trường và hướng tới mục tiêu giảm thiểu việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích phi lâm nghiệp (xem E2.1.1 để biết thêm chi tiết).

Các quy định về đánh giá tác động cũng là chìa khóa để bảo tồn đa dạng sinh học và giảm thiểu tác động đến môi trường, Điều 25 của Luật Bảo vệ môi trường (2020) quy định các đối tượng phải thực hiện đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) bao gồm: Chiến lược khai thác, sử dụng tài nguyên quốc gia; Quy hoạch tổng thể quốc gia; Quy hoạch không gian biển quốc gia; Quy hoạch sử dụng đất quốc gia; Quy hoạch vùng; Quy hoạch tỉnh; Quy hoạch đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; Chiến lược phát triển ngành quốc gia và vùng, quy hoạch ngành quốc gia và quy hoạch chuyên ngành kỹ thuật có tác động lớn đến môi trường nằm trong danh mục do Chính phủ quy định.

Đánh giá tác động môi trường (ĐTM)/Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) cũng phải được thực hiện tại các khu bảo tồn động vật hoang dã, công viên quốc gia, di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, v.v., đối với các dự án có thể gây ra tác động tiêu cực đến môi trường,[5] cũng như đối với việc phát triển các kế hoạch sử dụng đất tổng thể ở nhiều cấp độ khác nhau.

Ngoài ra, theo Luật Bảo vệ môi trường (2020),[6] Nghị định số 08/2022/NĐ-CP và Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT quy định về phân tích, đánh giá môi trường địa phương bao gồm các khu vực đa dạng sinh học cao, các vùng đất ngập nước quan trọng, các khu vực cảnh quan sinh thái quan trọng, các cảnh quan thiên nhiên quan trọng, các hành lang đa dạng sinh học, các khu bảo tồn thiên nhiên và các cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học. Khu vực đa dạng sinh học cao là khu vực tự nhiên có giá trị sinh học nổi bật hoặc quan trọng đối với tỉnh, vùng, quốc gia hoặc cộng đồng quốc tế, cần được quản lý thích hợp để duy trì, phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học nhằm tăng cường các giá trị hiện có, đáp ứng các tiêu chí quy định tại Điểm B, Khoản 2, Điều 20 của Luật Bảo vệ môi trường (2020). Cảnh quan sinh thái quan trọng là khu vực được hình thành do sự tương tác của các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, có hệ sinh thái tự nhiên đặc thù hoặc đại diện cho địa phương, quốc gia hoặc quốc tế, đáp ứng các yêu cầu về môi trường. Danh mục tiêu chí được quy định tại Điểm A và Điểm D, Khoản 2, Điều 20 của Luật Bảo vệ môi trường (2020).

Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050[7] cũng hỗ trợ bảo tồn rừng tự nhiên và đa dạng sinh học, bao gồm các mục tiêu về: trồng rừng phòng hộ và rừng đặc dụng với các loài bản địa, quý hiếm: (trung bình từ 4.000 đến 6.000 ha/năm); phục hồi rừng phòng hộ và rừng đặc dụng (trung bình 15.000 ha/năm); phục hồi và nâng cao chất lượng rừng tự nhiên để bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng và cung cấp dịch vụ môi trường rừng.

Điều 48 của Luật Lâm nghiệp (2017) quy định phát triển rừng trồng sản xuất gắn với hình thành các vùng trồng rừng tập trung, ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại và kỹ thuật lâm nghiệp thâm canh để tăng năng suất rừng trồng, cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến lâm sản. Khuyến khích trồng rừng hỗn giao và lâm sản ngoài gỗ, kết hợp trồng cây nhỏ, sinh trưởng nhanh với cây lớn, lâu năm, chuyển đổi rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng trồng gỗ lớn khi có điều kiện phù hợp. Theo Điều 59 Luật Lâm nghiệp (2017) về khai thác lâm sản trong rừng sản xuất là rừng trồng, chủ rừng quyết định khai thác rừng trồng thuộc sở hữu của mình. Trường hợp rừng trồng bằng vốn ngân sách nhà nước, chủ rừng phải lập hồ sơ khai thác lâm sản trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt nguồn vốn quyết định. Việc khai thác lâm sản trong rừng sản xuất là rừng trồng được thực hiện theo Quy chế quản lý rừng (2016).[8]

Điều 10, Thông tư số 22/2022/TT-BTNMT,[9] quy định nội dung bảo vệ môi trường trong quy hoạch tỉnh. Yêu cầu phân tích, đánh giá môi trường tại địa phương bao gồm: a) Phân vùng môi trường thành các khu bảo vệ nghiêm ngặt, khu vực hạn chế phát thải và các khu vực khác; cũng như b) Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, bao gồm: các khu vực đa dạng sinh học cao, các vùng đất ngập nước quan trọng, các vùng cảnh quan sinh thái quan trọng, các cảnh quan thiên nhiên quan trọng, các hành lang đa dạng sinh học, khu bảo tồn thiên nhiên, các cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, v.v.

Bộ NN&MT và UBND tỉnh đã ban hành các kế hoạch hành động bảo tồn đa dạng sinh học của ngành hoặc của tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050,[10] để sử dụng bền vững đa dạng sinh học trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Các kế hoạch này kiểm soát chặt chẽ các tác động tiềm ẩn phát sinh từ việc thay đổi mục đích hoặc phân loại sử dụng đất và mặt nước sang các mục đích phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản khác và chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang các mục đích khác ngoài lâm nghiệp.

Các quyết định sau đây cũng có liên quan đến năng lực quản lý các khu bảo tồn: Quyết định số 626/QĐ-TTg[11] Đề án tăng cường năng lực quản lý hệ thống khu bảo tồn đến năm 2025, tầm nhìn 2030 và Quyết định số 628/QĐ-TTg;[12] Kế hoạch hành động khẩn cấp bảo tồn các loài linh trưởng ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030. Bộ NN&PTNT cũng đã lập hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt Kế hoạch hành động bảo tồn tê tê, Chương trình nhân giống và bảo tồn các loài Sao la và Kế hoạch bảo tồn gấu tại Việt Nam.

 

   
[1] Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 28 tháng 01 năm 2023 về Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
[2] Luật Lâm nghiệp (2017)
[3] Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
[4]

Quyết định số 523/QĐ-TTg ngày 01 tháng 04 năm 2021 về Chiến lược phát triển Lâm nghiệp thời kỳ 2021-2030

[5]

Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT;

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-nguyen-Moi-truong/Thong-tu-02-2022-TT-BTNMT-huong-dan-Luat-Bao-ve-moi-truong-500694.asp

[6]

Luật số 72/2020/QH14 ngày 17 tháng 11 năm 2020 về Luật Bảo vệ Môi trường (2020), Điều 27

[7]

Quyết định số 523/QĐ-TTg ngày 01 tháng 4 năm 2021 về Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2021-2030

[8]

Quyết định số 49/2016/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2016 về quản lý rừng sản xuất

[9]

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-nguyen-Moi-truong/Thong-tu-02-2022-TT-BTNMT-huong-dan-Luat-Bao-ve-moi-truong-500694.aspx?anchor=dieu_11

[10]

Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 28 tháng 01 năm 2023 về Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050

[11]

Quyết định số 626/QĐ-TTg ngày 10 tháng 05 năm 2017 về Đề án tăng cường năng lực quản lý hệ thống khu bảo tồn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030

[12] Quyết định số 628/QĐ-TTg ngày 10 tháng 05 năm 2017 về Kế hoạch hành động cấp bách bảo tồn linh trưởng ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030