E2.1.1. Chính sách, luật và quy định về chuyển đổi rừng tự nhiên và hệ sinh thái
Luật Lâm nghiệp 2017 (Điều 10, 14, 21) quy định rừng tự nhiên phải được đưa vào quy hoạch rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất; không chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác (trừ trường hợp dự án quan trọng quốc gia, dự án quốc phòng hoặc dự án quan trọng khác được Chính phủ phê duyệt); chủ dự án được phép chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác phải trồng rừng thay thế bằng 3 lần diện tích rừng tự nhiên bị chuyển mục đích sử dụng. Việt Nam thực hiện chủ trương dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên từ năm 2015 đến nay.[1]
Đã xác định được các hệ sinh thái, vùng đa dạng sinh học trọng điểm, các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học, các biện pháp ưu tiên bảo tồn in-situ và ex-situ và các nhiệm vụ cụ thể được giao cho công tác bảo tồn. Quy hoạch lâm nghiệp phải nhất quán với chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học (Luật Lâm nghiệp, 2017). Theo Luật Đa dạng sinh học (2018), việc bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái và việc bảo tồn các loài bị đe dọa được ưu tiên.
Nghị định số 84/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực hiện Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES).
Luật Bảo vệ Môi trường (2020) cấm khai thác tài nguyên thiên nhiên trái phép và cần phải thực hiện đánh giá về chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội để sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Đánh giá tác động môi trường (ĐTM)/Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) sẽ được thực hiện tại các khu bảo tồn động vật hoang dã, vườn quốc gia, di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, v.v. và đối với các dự án có thể gây ra tác động tiêu cực đến môi trường).[2] cũng như cho việc xây dựng các quy hoạch sử dụng đất tổng thể ở nhiều cấp khác nhau.
Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050[3] hỗ trợ việc không chuyển đổi rừng tự nhiên, với mục tiêu quản lý chặt chẽ và bảo vệ rừng tự nhiên hiện có; thực hiện các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất rừng và suy thoái rừng; bảo tồn, tăng cường trữ lượng carbon và quản lý tài nguyên rừng bền vững (REDD+); và giảm thiểu việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích phi lâm nghiệp.
Thông tư số 23/2013/TT-BNNPTNT ngày 04 tháng 5 năm 2013 quy định việc tái sinh rừng tự nhiên nghèo kiệt thành rừng sản xuất đặt ra các yêu cầu lâm nghiệp cụ thể để tái sinh rừng tự nhiên nghèo kiệt thành rừng sản xuất khá nghiêm ngặt.
Việt Nam cũng có các hướng dẫn và quy trình để đảm bảo rằng các hoạt động của ngành lâm nghiệp, bao gồm cả xây dựng và thực hiện REDD+, xem xét thông tin về rừng tự nhiên và các hệ sinh thái khác, đồng thời tránh chuyển đổi rừng tự nhiên và các hệ sinh thái tự nhiên khác. Hướng dẫn Kế hoạch Phát triển Bền vững Rừng (FSDP)[4] của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT), tiền thân của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cần được tuân thủ đối với các can thiệp liên quan đến trồng rừng, tái trồng rừng và phục hồi rừng.
Các Kế hoạch Hành động REDD+ cấp tỉnh (PRAP) cũng hướng tới mục tiêu ngăn chặn việc chuyển đổi rừng tự nhiên, góp phần đạt được các mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2021-2030 là ổn định diện tích rừng tự nhiên vào năm 2030 ở mức ít nhất bằng diện tích năm 2020 và tăng độ che phủ rừng toàn quốc duy trì ở mức 42%. Hướng dẫn của Bộ NN & PTNT về PRAP[5] đã đưa ra quy trình đánh giá lợi ích và rủi ro về môi trường và xã hội cho các can thiệp PRAP, và yêu cầu các cơ quan lập kế hoạch phải 'Quản lý chặt chẽ việc chuyển đổi rừng tự nhiên sang các mục đích sử dụng đất khác'.
[1] Quyết định 2242/QĐ-TTg ngày 11/12/2014 của TTCP Phê duyệt Đề án Tăng cường công tác quản lý khai thác gỗ rừng tự nhiên giai đoạn 2014 - 2020
[2] Trang 64-66, Báo cáo tóm tắt thông tin đảm bảo an toàn REDD+ (SOI 2018): https://redd.unfccc.int/media/4850_1_first_soi_viet_nam__28eng_29.pdf
[3] Quyết định số 523/QĐ-TTg ngày 01 tháng 4 năm 2021 về Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2021-2030 tầm nhìn 2050
[4] Thông tư số 28/2018/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quy định quản lý rừng bền vững
[5] Quyết định số 5414/QĐ-BNN-TCLN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 25 tháng 12 năm 2015 về hướng dẫn xây dựng PRAP