E1.1.1. Định nghĩa và nhận biết rừng tự nhiên, hệ sinh thái và đa dạng sinh học
Các hệ sinh thái của Việt Nam được chia thành ba nhóm chính, điển hình của hệ sinh thái nhiệt đới, bao gồm: hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái đất ngập nước (bao gồm đất ngập nước nội địa và đất ngập nước ven biển) và hệ sinh thái biển.[1] Theo Luật Đa dạng sinh học (2018),[2] hệ sinh thái tự nhiên là hệ sinh thái được hình thành và phát triển theo quy luật tự nhiên, vẫn giữ được nét hoang sơ và hệ sinh thái tự nhiên mới là hệ sinh thái mới hình thành và phát triển trên vùng bãi bồi ven biển, vùng bãi bồi và vùng đất khác.
Theo Luật Lâm nghiệp (2017), Rừng tự nhiên là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên hoặc tái sinh có trồng bổ sung. Rừng tự nhiên bao gồm rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh được quy định tại Điều 4 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Lâm nghiệp.[3] Ngoài ra, rừng tự nhiên và rừng trồng ở Việt Nam cũng được phân loại theo mục đích sử dụng, bao gồm rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.[4]
Việt Nam có các quy định và chương trình xác định, lập bản đồ và kiểm kê rừng và các hệ sinh thái khác bao gồm:
- Thông tư số 23/2023/TT-BNNPTNT quy định về đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và kiểm kê khí nhà kính lĩnh vực lâm nghiệp.
- Thông tư số 27/2018/TT-BTNMT quy định việc thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
- Chương trình Điều tra, Giám sát và Đánh giá Rừng Quốc gia (NFIMAP) do Viện Điều tra Quy hoạch rừng thực hiện, được thực hiện theo chu kỳ 5 năm.
- Chương trình báo cáo, giám sát rừng và đất lâm nghiệp hàng năm (Chương trình số 32), do Cục Kiểm lâm thực hiện từ năm 2001 theo Chỉ thị số 32/2000/CT-BNN-KL ngày 27/03/2000.
- Dự án kiểm kê, đánh giá, giám sát tài nguyên rừng quốc gia giai đoạn 2022 – 2025.[5]
- Về hệ sinh thái tự nhiên, Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050[6] yêu cầu: xây dựng bản đồ hiện trạng rạn san hô, thảm cỏ biển và vùng đất ngập nước trên toàn quốc; xây dựng bản đồ hiện trạng đa dạng sinh học và hiện trạng “đối tượng quy hoạch” bảo tồn đa dạng sinh học cho từng vùng sinh thái (ví dụ: hành lang, khu bảo tồn, vùng đất ngập nước quan trọng...); bản đồ xác định các vùng ưu tiên bảo tồn đa dạng sinh học trong kỳ quy hoạch cho từng vùng sinh thái.
- Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT về phân loại rừng theo nguồn gốc cũng đưa ra các yêu cầu liên quan đến lập bản đồ, bao gồm: bản đồ phân bố thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; bản đồ phân bố động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; bản đồ kết quả kiểm kê rừng và bản đồ kết quả diễn biến rừng.
[1] Báo cáo Đánh giá hệ sinh thái quốc gia Việt Nam, 2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường: https://files.ipbes.net/ipbes-web-prod-public-files/webform/impact_tracking_database/62262/Summary_For_Policy_Makers_National_Ecosystem_Assessment_Report_Of_Viet_Nam.pdf
[2] Luật Đa dạng sinh học (Luật số 32/VBHN-VPQH) ngày 10/12/2018
[3] Tiêu chí đối với rừng tự nhiên: (1) Độ che phủ của cây gỗ, tre, nứa, cau (sau đây gọi tắt là cây rừng) là thành phần chính của rừng tự nhiên từ 0,1 trở lên; (2). Diện tích liền kề từ 0,3 ha trở lên; (3) Chiều cao trung bình của cây rừng là thành phần chính của rừng tự nhiên được phân chia theo điều kiện lập địa như sau: a) Rừng tự nhiên trên đồi, núi, đồng bằng: chiều cao trung bình của cây rừng từ 5,0 m trở lên; b) Rừng tự nhiên trên đất ngập nước ngọt: chiều cao trung bình của cây rừng từ 2,0 m trở lên; c) Rừng tự nhiên trên đất phèn: chiều cao trung bình của cây rừng từ 1,5 m trở lên; d) Rừng tự nhiên trên núi đá, đất cát, rừng ngập mặn và các loại rừng khác có điều kiện sinh thái đặc biệt khác: chiều cao trung bình của cây rừng từ 1,0m trở lên.
[4] Công bố hiện trạng sử dụng đất cả nước đến ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (năm 2023) nêu rõ phân loại sử dụng đất lâm nghiệp có 3 loại: (1) Đất rừng sản xuất (bao gồm đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên và đất rừng sản xuất là rừng trồng); (2) Đất rừng phòng hộ (bao gồm đất rừng phòng hộ là rừng tự nhiên và đất rừng phòng hộ là rừng trồng); (3) Đất rừng đặc dụng (bao gồm đất rừng đặc dụng là rừng tự nhiên và đất rừng đặc dụng là rừng trồng).
[5] Quyết định số 2327/QĐ-BNN-LN ngày 13 tháng 6 năm 2023 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
[6] Quyết định số 1352/QQ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc phê duyệt Kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050