D1.1.1. Xác định các bên liên quan đến REDD+
Các bên liên quan đến REDD+ tại Việt Nam được xác định thông qua một số cách như các quy định pháp luật (ví dụ Luật Lâm nghiệp 2017 và Luật Đa dạng sinh học 2018); thông qua việc xác định các bên liên quan khi xây dựng đề xuất chuẩn bị sẵn sàng thực thi REDD+, Chương trình giảm phát thải của Quỹ đối tác Các-bon (FCPF-ERP) và trong quá trình xây dựng Chương trình REDD+ quốc gia (NRAP) (do Chương trình UN-REDD hỗ trợ).
Trong quá trình dự thảo NRAP, phân tích các bên liên quan được thực hiện thông qua nghiên cứu tổng quan tài liệu, và các hội thảo, phỏng vấn vào năm 2014, xem xét các lợi ích và ảnh hưởng của các bên liên quan tham gia vào Chương trình REDD+ quốc gia (NRAP), cấp tỉnh (PRAP) và đưa ra các khuyến nghị cho các bên liên quan để thực hiện các chương trình này.[1]
Các bên liên quan đến REED+ chính đã được xác định, bao gồm:
● Các cơ quan dân bầu: bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp xã và các ủy ban trực thuộc các cơ quan này như Hội đồng Dân tộc của Quốc hội và Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.
● Chính phủ và các Bộ, cơ quan ngang Bộ: gồm Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, các Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan và các cơ quan, đơn vị chuyên môn.
● Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, xã và các cơ quan, lực lượng chuyên ngành có liên quan như các cơ quan chuyên ngành về lâm nghiệp cấp tỉnh và cán bộ lâm nghiệp ở cấp xã.
● Chủ rừng[2] bao gồm:
o Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
o Tổ chức kinh tế gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều này
o Hộ gia đình, cá nhân trong nước.
o Đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được giao rừng
o Tổ chức khoa học và công nghệ, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp về lâm nghiệp
o Hộ gia đình, cá nhân trong nước.
o Cộng đồng dân cư
o Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất để trồng rừng sản xuất
● Đối tượng được hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng [4]: bao gồm cả chủ rừng như đã nêu ở trên, cũng như các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn đã ký hợp đồng bảo vệ rừng ổn định và lâu dài với các chủ rừng là các tổ chức nhà nước.
● Người DTTS sống ở các xã có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn ở vùng dân tộc và miền núi, thực hiện một trong các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng: bảo vệ, phục hồi rừng tự nhiên; trồng rừng, lâm sản ngoài gỗ trên đất dự kiến phát triển rừng và được Nhà nước giao rừng bảo vệ theo hợp đồng.[5]
● Các đơn vị quản lý và các tổ chức được giao quản lý các khu bảo tồn[6]
● Cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân sống trong hoặc gần khu bảo vệ rừng và vùng đệm.
● Các tổ chức xã hội dân sự: bao gồm các hiệp hội trên toàn quốc từ trung ương đến địa phương đại diện cho phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh và thanh niên, các hiệp hội, mạng lưới và các tổ chức ở cấp trung ương và địa phương tập trung vào khoa học, công nghệ, giảm nghèo, phát triển bền vững và các ngành, lĩnh vực liên quan khác
● Các bên liên quan đến các chuỗi giá trị hàng hóa nông nghiệp và thủy sản như cà phê, cao su, tôm, sắn, hồ tiêu, bao gồm:
o Các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, các nhà sản xuất nhỏ và các đối tượng khác trong chuỗi giá trị dành cho các loại hàng hóa này
o Các hiệp hội kinh doanh và các tổ chức liên quan như Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội sản xuất và xuất khẩu hải sản Việt Nam (VASEP), Hiệp hội cà phê và ca cao Việt Nam (VICOFA), Hiệp hội cao su Việt Nam (VRA) và Ban điều phối cà phê Việt Nam (VCCB).
● Các tổ chức tài chính, Quỹ nhà nước và các nhà cung cấp dịch vụ tài chính, tín dụng và các dịch vụ tài chính khác nhằm tăng cường phát triển rừng
● Truyền thông cung cấp thông tin minh bạch về REDD+
[1] Chương trình UN-REDD (2014) Phân tích các bên liên quan và sự tham gia của các bên liên quan trong thực hiện NRAP ở Việt Nam: https://www.un-redd.org/sites/default/files/2021-10/A4_FPIC_17.9.pdf
[2] Điều 8 Luật Lâm nghiệp (2017)
[3] Điều 8 Luật Lâm nghiệp (2017)
[4] Nghị định 99/2010/ND-CP được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 147/2016/ND-CP ngày 02 tháng 11 năm 2016
[5] Nghị định số 75/2015/ND-CP
[6] Luật Đa dạng sinh học (2018)