C2.1.2. Tri thức truyền thống và bảo tồn ở cấp quốc gia
Một số thông tin liên quan đến bảo vệ tri thức truyền thống và bảo tồn nguồn gen trên toàn quốc, bao gồm:
- Báo cáo quốc gia lần thứ 5[1] và thứ 6[2] về Công ước Đa dạng Sinh học (lần lượt cho giai đoạn 2009-2013 và giai đoạn 2014-2018) gồm thông tin về nỗ lực bảo tồn tri thức bản địa, đổi mới và thực hành và đảm bảo chia sẻ công bằng lợi ích từ nguồn gen. Ví dụ:
- Các viện nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu về thực vật học dân tộc nhằm điều tra, đánh giá, bảo tồn và phát triển tri thức truyền thống của các dân tộc miền núi trong bảo tồn và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Kết quả là đã thu thập hàng trăm cây thuốc và bài thuốc gia truyền của đồng bào các dân tộc Dao, Nùng, Tày, H'Mông ở vùng núi Việt Nam.
- Một số tập quán như bảo vệ các khu vực rừng thiêng, nước thiêng (nơi cư trú, sinh sản của nhiều loài động, thực vật hoang dã và cá) của đồng bào DTTS được các cấp chính quyền duy trì và phát triển. Một số lễ hội dân gian như Cầu ngư của cộng đồng ngư dân ven biển cũng được tiến hành hàng năm.
- Bộ KHCN và MAE[3] đã xây dựng cơ sở dữ liệu về giống và nguồn gen cây trồng, vật nuôi.
- Hệ thống dữ liệu về Đa dạng sinh học quốc gia[4] bao gồm thông tin về các cơ sở lưu trữ thực vật, vật nuôi, các giống đặc thù, có nguy cơ tuyệt chủng, quý hiếm để bảo tồn các nguồn gen và giống di truyền.
- Danh sách các sản phẩm. OCOP đã được xây dựng và công bố trên trang web về chương trình OCOP quốc gia và cấp tỉnh[5], trong đó nhiều sản phẩm OCOP được sản xuất bằng cách sử dụng nguyên liệu địa phương và tri thức truyền thống của các DTTS và cộng đồng địa phương như các sản phẩm thịt khô gác bếp, các loại nước tắm thảo dược, nước ngâm chân, các loại rượu truyền thống.
Bảng C2.1.2: Mục tiêu của Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học (NBSAP) liên quan đến sử dụng bền vững và chia sẻ lợi ích công bằng từ hệ sinh thái và các nguồn gen
| NBSAP đến 2020, tầm nhìn 2030 - Mục tiêu cụ thể được nêu trong Báo cáo quốc gia lần thứ 5[1] | |||
| Mục tiêu chiến lược 3: Sử dụng bền vững và chia sẻ lợi ích công bằng từ hệ sinh thái và các nguồn gen | 2010 | 2015 | 2020 |
| Hệ sinh thái bị suy thoái được phục hồi | Không có dữ liệu | -- | Tăng ít nhất 15% so với 2010 |
| Nhân giống động vật hoang dã có giá trị | -- | Tăng 15% so với 2010 | Tăng 30% so với 2010 |
| Tỷ lệ khu bảo tồn (PA) có cơ chế chia sẻ lợi ích | 10 khu | Tăng 10% | Tăn 50% |
| NBSAP đến 2020, tầm nhìn 2030 - Mục tiêu cụ thể được nêu trong Báo cáo quốc gia lần thứ 6[2] | 2014 | 2017 | 2020 |
| Mục tiêu 3: - Số lượng mẫu giống được lưu trữ và bảo tồn tại các ngân hàng giống, gen và tại các trang trại. Đến năm 2020, bảo quản được 80.000 - 120.000 mẫu | Không có dữ liệu | Lưu trữ khoảng 60.000 mẫu, bao gồm 30.000 hạt giống/gen nông nghiệp; hơn 2.000 loài cây rừng; 2.998 loài cây thuốc; khoảng 70 loài động vật nuôi; 2.999 loài thủy sinh; và khoảng 22.000 chủng vi sinh vật. | Trong tiến độ đạt mục tiêu |
| Mục tiêu đa dạng sinh học Aichi 16: Nghị định thư Nagoya về tiếp cận và chia sẻ lợi ích | ● Bộ TN&MT đã ban hành hai văn bản quan trọng liên quan đến Nghị định thư Nagoya: Nghị quyết số 10/NQCP ngày 12 tháng 2 năm 2014 về việc gia nhập Nghị định thư bổ sung Nagoya Kuala Lumpur về trách nhiệm pháp lý và bồi thường đối với Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học và Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2014 về việc gia nhập Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích công bằng và bình đẳng.\Báo cáo về các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen, bao gồm Luật Đa dạng sinh học, Quyết định số 1141/QĐ-TTg ngày 27 tháng 6 năm 2016 về tăng cường năng lực quản lý tiếp cận nguồn gen, tiếp cận công bằng, bình đẳng và chia sẻ lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen giai đoạn 2016 - 2025; Nghị định số 59/2017/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2017 về quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen. ● Báo cáo về các văn bản pháp luật về quản lý, tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen, bao gồm Luật Đa dạng sinh học, Quyết định số 1141/QĐ-TTg ngày 27 tháng 6 năm 2016 về tăng cường năng lực quản lý tiếp cận nguồn gen, tiếp cận công bằng, bình đẳng và chia sẻ lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen giai đoạn 2016 - 2025; Nghị định số 59/2017/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2017 về quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen. ● Bộ TN&MT đã triển khai dự án “Thúc đẩy áp dụng Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích tại Việt Nam” do GEF/UNDP tài trợ từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 12 năm 2019. ● Nghị định số 59 có quy định về tiếp nhận, thẩm định và cấp giấy phép cho hồ sơ đăng ký tiếp cận nguồn gen: Tính đến tháng 8 năm 2018, đã thẩm định và cấp 18 giấy phép đưa nguồn gen ra nước ngoài phục vụ mục đích phi thương mại (học tập, nghiên cứu); 03 hồ sơ đề nghị cấp giấy phép tiếp cận nguồn gen đã hoàn tất thủ tục đăng ký. | ||
| Mục tiêu đa dạng sinh học 18: Tri thức truyền thống | ● Khai thác và sử dụng cây thuốc: Nhiều viện đã tiến hành nghiên cứu về thực vật học dân tộc, tập trung vào tri thức truyền thống của các DTTS, ví dụ: hàng trăm cây thuốc và thảo dược truyền thống đã được thu thập từ các dân tộc thiểu số Dao, Nùng, Tày và H'Mông. Viện Dược liệu đã tiến hành khảo sát tri thức bản địa, sưu tầm cây thuốc và kinh nghiệm của các dân tộc thiểu số. Danh mục cây thuốc của 15 dân tộc đã được xây dựng, và Viện đã thu thập và lưu giữ 1.296 bài thuốc dân gian. ● Kiến thức/kinh nghiệm trồng trọt và chăn nuôi: Tri thức của người dân địa phương được phát huy, bao gồm kiến thức về trồng trọt, nhận dạng cây rừng, tài nguyên rừng, khai thác và sử dụng lâm sản. Phỏng vấn người dân địa phương cho thấy hầu hết người dân đều mong muốn tham gia bảo vệ và phát triển rừng; điều này cũng rất quan trọng đối với việc phát triển các tổ chức cộng đồng và các quy định về quản lý và bảo vệ rừng. ● Quy định địa phương về bảo vệ rừng: Một số tập quán của các dân tộc thiểu số, chẳng hạn như bảo vệ rừng thiêng và các nguồn nước, đã được chính quyền duy trì và phát triển, ví dụ như: Phong tục tập quán của người Ê Đê ở Tây Nguyên có 236 quy định về trách nhiệm, nhằm tạo sự bình đẳng. Ngoài ra, hàng năm, nhiều lễ hội dân gian được tổ chức, chẳng hạn như lễ hội cầu ngư của cộng đồng ngư dân ven biển. ● Các văn bản pháp luật quy định về bảo vệ và chia sẻ tri thức truyền thống tại Việt Nam: mô tả các quy định liên quan của Luật Đa dạng sinh học; Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14 tháng 2 năm 2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, trong đó quy định về hồ sơ đăng ký sáng chế liên quan đến nguồn gen hoặc tri thức truyền thống. | ||
| NBSAP đến 2030, tầm nhìn 2050[3] | |||
| Mở rộng và củng cố mạng lưới quỹ gen; tăng cường trao đổi thông tin, dữ liệu, kinh nghiệm giữa các thành viên trong mạng lưới; thúc đẩy xây dựng cơ sở dữ liệu nguồn gen quốc gia. |
|
|
|
| Tăng cường thu thập, tư liệu hóa, lập chỉ dẫn địa lý và thực hiện các biện pháp bảo tồn tri thức truyền thống về nguồn gen. |
|
|
|
| Bảo tồn, phát triển lâm sản ngoài gỗ và dược liệu đặc thù của các vùng miền theo hướng thâm canh, bền vững, giá trị gia tăng cao (nhất là các sản phẩm truyền thống như quế, hồi, sở, nhựa thông, song, mây, tre, trúc,...), góp phần cải thiện sinh kế, tạo nguồn thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số; triển khai các biện pháp bảo vệ, phát triển các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị, đặc biệt là các loài cây thuốc, cây cảnh. |
|
|
|
[1] Báo cáo quốc gia lần 5 về Công ước Đa dạng sinh học:
https://www.cbd.int/doc/world/vn/vn-nr-05-en.pdf
[2] Báo cáo quốc gia lần 6 về Công ước Đa dạng sinh học: https://www.cbd.int/doc/nr/nr-06/vn-nr-06-en.pdf
[3] Cơ sở dữ liệu về nguồn gen cây trồng, vật nuôi: https://csdl.prc.org.vn/
[4] https://en.nbca.gov.vn/cong-cu-bao-ton/xac-lap-cac-khu-vuc-bao-ve-bao-ton/khu-bao-ton-thien-nhien/
[5]Danh mục các sản phẩm OCOP: http://ocop.gov.vn/san-pham