C1.1.1. Chính sách, luật và quy định định nghĩa và công nhận người dân tộc thiểu số và cộng đồng địa phương

C1.1.1. Chính sách, luật và quy định định nghĩa và công nhận người dân tộc thiểu số và cộng đồng địa phương

Ở Việt Nam, thuật ngữ “dân tộc bản địa” không còn được sử dụng sau năm 1945 và sử dụng dân tộc thiểu số (DTTS) Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách phát triển bình đẳng, bảo tồn, phát huy truyền thống của các dân tộc. Điều này đã được ghi nhận, từ Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam 1946 đến Hiến pháp năm 2013 (Điều 5).[1]

Một nhóm dân tộc đa số ở Việt Nam được định nghĩa là “một nhóm dân tộc với dân số chiếm hơn 50% tổng dân số của cả nước theo khảo sát dân số quốc gia,” và một nhóm dân tộc thiểu số được định nghĩa là “một nhóm dân tộc với dân số nhỏ hơn dân số của nhóm dân tộc đa số trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. [2]Các nhóm dân tộc có “dân số rất thấp” được định nghĩa là “các nhóm dân tộc thiểu số có dân số dưới 10.000 người”.[3] 

Việt Nam định nghĩa cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, bản hoặc các điểm dân cư tương tự, thường có chung truyền thống, phong tục và/hoặc có chung dòng họ.[4] Cộng đồng dân cư ở Việt Nam có thể bao gồm các hộ gia đình và cá nhân thuộc nhóm dân tộc đa số hoặc nhóm dân tộc thiểu số.

[1] Hiến pháp Việt Nam năm 2013, Điều 5

[2] Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011 (khoản 2, 3 Điều 4)

[3] Điều 4(6) Nghị định số 05/2011/N-CP về công tác dân tộc

[4] Điều 5(3) Luật Đất đai 2013; Điều 3(13) Luật Đất đai 2024; Điều 2 (24) Luật Lâm nghiệp 2017