C2.1.1. Chính sách, luật và quy định về tri thức truyền thống

C2.1.1. Chính sách, luật và quy định về tri thức truyền thống

Việt Nam đã có khung pháp lý về tôn trọng tri thức truyền thống và bản địa, gắn liền với việc phê chuẩn Công ước về Đa dạng sinh học (CBD). Tri thức truyền thống được định nghĩa tại Điều 8(j) của CBD đã được Việt Nam phê chuẩn, bao gồm “tri thức, sáng kiến và các phong tục … được phát triển qua những kinh nghiệm của cộng đồng qua nhiều thế kỷ để phù hợp với nhu cầu, văn hóa và môi trường địa phương và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”.[1]

Chiến lược đa dạng sinh học quốc gia của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được đệ trình lên Công ước Đa dạng sinh học năm 2015 và bao gồm các hoạt động để “thiết lập cơ chế quản lý tiếp cận nguồn gen, chia sẻ lợi ích, bảo vệ và tri thức truyền thống về nguồn gen”.[2] Chiến lược đa dạng sinh học quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050[3] phê duyệt năm 2022 bao gồm nhiệm vụ trọng tâm là tăng cường công tác bảo tồn nguồn gen, quản lý việc tiếp cận nguồn gen, chia sẻ lợi ích và bảo vệ tri thức truyền thống về nguồn gen. Chiến lược này cũng bao gồm các mục tiêu về đảm bảo quyền và sự tham gia của cộng đồng trong quản lý khu bảo tồn, và các nhiệm vụ chính bao gồm: hỗ trợ sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương xung quanh các khu bảo tồn thiên nhiên; hỗ trợ thiết lập các khu bảo tồn thiên nhiên do cộng đồng địa phương quản lý; và khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia vào việc bảo tồn nguồn gen động vật, thực vật.

Theo Luật Đa dạng sinh học[4], Nhà nước bảo hộ bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gen, khuyến khích và hỗ trợ tổ chức, cá nhân đăng ký bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gen (Điều 58 và 64), đồng thời yêu cầu chia sẻ lợi ích thu được từ việc tiếp cận nguồn gen (Điều 61).

Theo Luật Lâm nghiệp 2017[5] và NRAP (2017)[6] cũng có các quy định tôn trọng và tăng cường các kiến thức của người DTTS và cộng đồng địa phương, bảo đảm quyền tiếp cận đất đai, rừng, quyền hưởng lợi từ rừng. Ví dụ như các hoạt động nâng cao nhận thức để tăng kiến thức cho cộng đồng địa phương về các quyền hợp pháp mà họ được hưởng, khuyến khích giao đất, rừng, khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư; đẩy mạnh các hình thức hợp tác quản lý rừng tự nhiên.

Các kiến thức và thực hành truyền thống được đề cập đến trong quản lý rừng như “hương ước, quy ước”. Những quy định địa phương được tăng cường trong Luật Lâm nghiệp (2017), quy định các công ty lâm nghiệp nhà nước phải làm việc với cộng đồng để lồng ghép các quy định địa phương trong các hoạt động liên quan đến rừng. Trong chương trình FCPF, tri thức truyền thống như các hướng dẫn và quy định địa phương liên quan đến quản lý rừng như “hương ước, quy ước” được đề cập đến trong quy trình ACMA.

Một loạt chiến lược và dự án phát triển ngành cũng đã công nhận tầm quan trọng của tri thức truyền thống và việc chia sẻ lợi ích công bằng từ các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái. Ví dụ:

  • Chương trình bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030 đã nêu rõ ứng dụng khoa học và công nghệ hiện đại kết hợp hài hòa với tri thức truyền thống trong bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ thiên nhiên, môi trường.[7]
  • Kế hoạch hành động quốc gia về chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững tại Việt Nam đến năm 2030[8] xác định các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có xây dựng các mô hình sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, nước, nguồn gen của thực vật và động vật; duy trì và phát huy tri thức truyền thống để đảm bảo tính hiệu quả, bền vững và bảo vệ môi trường của hệ thống lương thực thực phẩm.
  • Thông tư số 28/2018/TT-BNNPTNT và Thông tư 13/2023/TT-BNNPTNT về quản lý rừng bền vững nêu rõ cần xây dựng kế hoạch hành động hỗ trợ cộng đồng và người dân địa phương về giống, kỹ thuật, và đào tạo về quản lý và bảo vệ rừng bền vững.
  • Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tập trung phát triển các sản phẩm OCOP có lợi thế về nguyên liệu địa phương, văn hóa, tri thức truyền thống.[9]

 

[1] Ban thư ký Công ước đa dạng sinh học (2011), Thông tin về tri thức truyền thống

[2] Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 2013 phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn 2030

[3] Quyết định 149/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn 2050

[4] Luật số 32/VBHN-VPQH ngày 10/12/2018

[5] Điều 4, Luật Lâm nghiệp 2017

[6] Quyết định số 419/QĐ-TTg ngày 5 tháng 4 năm 2017 về NRAP

[7] Quyết định 1671/QĐ-TTG về phê duyệt Chương trình bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030

[8] III Phần 2(d), Quyết định 300/QĐ-TTg, ngày 28/3/2023

[9] Quyết định 919/QĐ-TTg phê duyệt chương trình OCOP giai đoạn 2021-2025