C1.1.3. Dân tộc thiểu số và các cộng đồng dân cư tại các khu vực thực hiện REDD+

C1.1.3. Dân tộc thiểu số và các cộng đồng dân cư tại các khu vực thực hiện REDD+

Người DTTS được xác định tại các khu vực thực hiện các chương trình giảm phát thải 

Các bên liên quan đến REDD+ ở Việt Nam đã được xác định thông qua các luật chuyên ngành (Luật Lâm nghiệp 2017[1] và Luật Đa dạng sinh học 2018[2]). Chương trình NRAP của Việt Nam (2017)[3] cũng xác định các bên liên quan vào các hoạt động REDD+, bao gồm cộng đồng địa phương, người DTTS, các tổ chức cộng đồng, các nhóm theo giới, các tổ chức kinh tế - chính trị và các tổ chức có liên quan. NRAP của Việt Nam (2017) cũng nêu rõ cần đảm bảo sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của các bên liên quan vào các hoạt động REDD+, bao gồm cả người DTTS và phụ nữ thuộc cộng đồng dân cư địa phương. 

Hướng dẫn PRAP của MARD cũng bao gồm các quy trình đánh giá tính khả thi và các chính sách và giải pháp REDD+, bao gồm xác định các đối tượng hưởng lợi, tham vấn với các bên liên quan bao gồm cả người DTTS và xác minh thực địa.[4]

Đề xuất chuẩn bị sẵn sàng cho chương trình FCPF-ERP có sự tham gia của các bên liên quan, bao gồm Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện và xã và các chủ rừng, hộ gia đình và cộng đồng địa phương.[5] Khung Quy hoạch Dân tộc thiểu số (EMPF) của FCPF-ERP hướng dẫn việc sàng lọc và chuẩn bị Kế hoạch Phát triển Dân tộc thiểu số (EMDP) cụ thể cho từng địa điểm. Chương trình giảm phát thải (ERP) của FCPF cũng đã sử dụng các cơ chế để tăng cường tham vấn với các cộng đồng ở các địa điểm cụ thể như Đánh giá nhu cầu REDD+ (RNA), Báo cáo sàng lọc xã hội (SSR) và các bên liên quan từ cấp quốc gia đến cấp địa phương đã được tham vấn trong quá trình thực hiện SESA và ESMF.[6] Với Chương trình giảm phát thải (ERP) của FCPF, 13 nhóm DTTS đã được xác định trong khu vực thực hiện chương trình, chủ yếu được tìm thấy ở các huyện và xã miền núi có tỷ lệ cao đất được phân loại là rừng.[5]

Trong chương trình LEAF, có trên 20 nhóm dân tộc khác nhau tại các tỉnh tham gia chương trình.[7] Tuy nhiên, chưa có dữ liệu chính xác về diện tích rừng mà người DTTS bảo vệ và quản lý.

Sự tham gia của người DTTS và cộng đồng địa phương trong quá trình tham vấn: xem trong chủ đề C2.2.4

 

[1] Điều 1 (8) Luật Lâm nghiệp 2017

[2] Điều 2, Luật Đa dạng sinh học 2018

[3] Quyêt định số 419/QĐ-TTg ngày 5 tháng 4 năm 2017 về NRAP

[4] Quyết định số 5414/QĐ-BNN-TCLN của MARD về hướng dẫn xây dựng kế hoạch thực hiện REDD+ cấp tỉnh

[5] Tài liệu chương trình giảm phát thải FCPF (2018) https://www.forestcác-bonpartnership.org/system/files/documents/00_FINAL%20ER-PD%20Viet Nam%205%20Jan%202018__0.pdf

[6] Báo cáo SOI 1 (2018), trang 18: https://redd.unfccc.int/media/4850_1_first_soi_viet_nam__28eng_29.pdf
[7] 20 nhóm DTTS tại các tỉnh chương trình LEAF gồm Tày, Nùng, Mông, Êđê, Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng, Cơ Ho, Mnông, Mạ, Gié Triêng, Chu Ru, Mường, Thái, Hoa, Hrê, Bru Vân Kiều, Sán Chay, Khmer