C2.2.1. Chính sách, luật và quy định về các quyền của người dân tộc thiểu số và cộng đồng dân cư địa phương
Việt Nam đã có khung pháp lý về tôn trọng các quyền con người của người DTTS và cộng đồng địa phương, các quyền này được nêu trong Hiến pháp năm 2013 và các luật, chính sách, quy định.
Hiến pháp Việt Nam (2013) công nhận tất cả các dân tộc bình đẳng, tất cả những hành vi phân biệt và chia rẽ dân tộc đều bị nghiêm cấm. Hiến pháp cũng công nhận mọi nhóm dân tộc đều có quyền sử dụng ngôn ngữ và hệ thống chữ viết của mình để bảo tồn bản sắc dân tộc và quảng bá thuần phong mỹ tục. Hiến pháp cũng quy định về các quyền con người của mọi công dân Việt Nam như quyền được sống, quyền được bảo hộ và quyền riêng tư.[1] Quyền không bị phân biệt đối xử được quy định trong Bộ luật Hình sự.[2]
Cộng đồng địa phương có thể có quyền sử dụng đất và sử dụng rừng, và được bảo vệ quyền lợi hợp pháp đối với việc sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất. Các DTTS có các quyền pháp lý về sử dụng đất và đất rừng như những công dân Việt Nam khác. Các cộng đồng, bao gồm cộng đồng DTTS, có thể được giao đất, rừng để sử dụng và quản lý theo quy định của Luật Đất đai (2024) và Luật Lâm nghiệp (2017).[3] Thông tin thêm về quyền đối với đất và rừng được đề cập trong chủ đề B2.2.
Ngoài ra còn có một số chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế và sự tham gia của các DTTS, như khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng, phát triển lâm sản ngoài gỗ, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất ở các xã, huyện nghèo, trong đó có vùng đồng bào DTTS; hỗ trợ việc làm; giáo dục; y tế và hoạt động trợ giúp pháp lý; Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.[4] Theo Luật Lâm nghiệp (2017), việc xây dựng quy hoạch rừng cần đảm bảo sự tham gia của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng, bao gồm người DTTS.[3]
Khung pháp lý liên quan đến quyền được chia sẻ lợi ích từ rừng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác được đề cập trong Chủ đề B.2; quyền tiếp cận thông tin theo Chủ đề B.1; và quyền tiếp cận công lý theo Chủ đề B.3.
Quy trình tham vấn FPIC là yếu tố quan trọng của Tuyên bố liên hợp quốc về người bản địa (UNDRIP) mà Việt Nam đã tham gia; được nêu trong chủ đề C2.2.2.
[1] Điều 19, 20 và 21, Hiến pháp 2013
[2] Điều 4 của Bộ luật Hình sự (2015)
[3] Điều 5 Luật Đất đai 2013; Điều 4, Luật Đất đai 2024; Điều 4 và 14, Luật Lâm nghiệp 2017
[4] Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 về Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030