G2.1.1. Các chính sách, luật và quy định liên quan tới giảm sự dịch chuyển phát thải khí nhà kính
Khung đảm bảo an toàn (CSF) của Việt Nam bao gồm khung pháp lý cũng như các quy trình và kết quả liên quan đến rủi ro di dời. Báo cáo tóm tắt thông tin lần đầu (SOI 1) không xác định được bất kỳ chính sách, luật, quy định nào có liên quan đến việc giảm rủi ro dịch chuyển phát thải. Tuy nhiên, thông tin này hiện được cập nhật như sau:
- Luật Đất đai (2024) đưa ra các điều kiện và các trường hợp thay đổi mục đích sử dụng đất (Điều 121, 122, 123), trong đó có đất lâm nghiệp. Cụ thể, đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất có thể chuyển đổi sang loại đất nông nghiệp khác. Tiêu chí, điều kiện, trình tự và thủ tục thay đổi mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất sáng đất nông nghiệp khác được quy định chi tiết trong Nghị định 102/2024/NĐ-CP, trong đó UBND tỉnh phê duyệt từ 02 ha trở lên đối với các trường hợp đủ điều kiện (Điều 46 và 48).
- Luật Lâm nghiệp 2017 (Điều 11,14) quy định quy hoạch lâm nghiệp phải có tầm nhìn 30 đến 50 năm; không chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác (trừ trường hợp các dự án quan trọng cấp quốc gia, các dự án phục vụ quốc phòng, an ninh, và các dự án đặc biệt khác được Chính phủ phê duyệt). Chủ dự án có chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải trồng rừng thay thế bằng ba lần diện tích bị chuyển mục đích sử dụng đối với rừng tự nhiên (Điều 21).
- Điều 8, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP về giảm phát thải KNK và bảo vệ tầng ô zôn yêu cầu xây dựng và thực hiện các biện pháp quản lý rừng bền vững, bảo vệ và nâng cao tỷ lệ che phủ, sinh khối và chất lượng rừng để tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính. Theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động tăng cường hấp thụ khí nhà kính từ quản lý rừng bền vững, bảo vệ và nâng cao tỷ lệ che phủ, sinh khối và chất lượng rừng trên phạm vi cả nước.
- Nghị định số 156/2018/ND-CP và Thông tư số 33/2018/TT-BNN-TCLN quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác, trồng rừng thay thế đối với diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng được phép chuyển mục đích; phòng chống cháy rừng; yêu cầu điều tra, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng. Hệ thống NFMS cung cấp số liệu về diễn biến rừng và diện tích mất rừng theo nguyên nhân (khai thác rừng, cháy rừng, phá rừng trái phép, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, thay đổi do thiên tai, dịch bệnh và các nguyên nhân khác). Hàng năm UBND tỉnh và MARD cũng công bố số liệu này.[1]
- Nghị định số 102/2020/NĐ-CP của Chính phủ về Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam, trong đó quy định quản lý chặt chẽ xuất, nhập khẩu gỗ, truy xuất nguồn gốc gỗ nhằm hạn chế rủi ro dịch chuyển phát thải.
- Các biện pháp tăng cường thực thi luật lâm nghiệp liên ngành (có thể bao gồm hợp tác với các quan chức hải quan về buôn bán xuyên biên giới trái phép): Các biện pháp hợp tác quốc tế bao gồm tăng cường bảo tồn xuyên biên giới tại các cảnh quan hành lang bảo tồn quan trọng, ví dụ như giữa các tỉnh ở Việt Nam và các nước láng giềng, chuỗi cung ứng nông sản không phá rừng trong các ngành công nghiệp liên quan.
Nhiều thỏa thuận và quy trình quốc tế cũng cam kết Việt Nam sẽ phối hợp trong quản lý và bảo vệ rừng, thực thi pháp luật và buôn bán lâm sản, những nội dung liên quan đến nỗ lực xác định và giảm thiểu di dời dân. Ví dụ:
- Việt Nam đã tham gia Tuyên bố của các nhà lãnh đạo Glasgow về Rừng và Sử dụng Đất tại Hội nghị COP26 của UNFCCC,,[2] trong đó đặt ra mục tiêu giảm 43% lượng khí thải nhà kính trong nông nghiệp và 70% trong lĩnh vực lâm nghiệp và sử dụng đất vào năm 2030 (so với kịch bản phát triển thông thường); khả năng hấp thụ carbon dự kiến sẽ tăng 20% vào năm 2030.
- Các Biên bản ghi nhớ (MOU) đã được ký kết giữa Cục Kiểm lâm Việt Nam với Cục Kiểm lâm Lào về hợp tác bảo vệ rừng, thực thi pháp luật về lâm nghiệp và ngăn chặn buôn bán, vận chuyển gỗ, lâm sản và động vật hoang dã trái phép. Các cuộc đàm phán giữa các tỉnh có cửa khẩu biên giới liên quan (Quảng Bình, Quảng Trị, Nghệ An và Hà Tĩnh) nhằm tăng cường hợp tác chống khai thác gỗ trái phép.
- Việt Nam và các nước láng giềng, bao gồm cả CHDCND Lào, đang thực hiện các Hiệp định Đối tác Tự nguyện (VPA) theo Kế hoạch Hành động Thực thi Luật Lâm nghiệp, Quản lý và Thương mại Lâm sản (FLEGT) của EU. Việc CHDCND Lào ban hành các quy định về gỗ đã có tác động đáng kể đến việc vận chuyển gỗ tròn và gỗ xẻ vào Việt Nam.
- Khung Thực hiện Chung EU-Việt Nam và các văn bản pháp lý cũng như hướng dẫn thực hiện Hệ thống Đảm bảo Tính Hợp pháp Gỗ Việt Nam (VNTLAS) dự kiến sẽ được xây dựng, kết hợp với các chương trình quốc gia về chứng nhận tự nguyện và VNTLAS, với sự hỗ trợ của GIZ (cơ quan hợp tác quốc tế của Đức).
- Các cán bộ hải quan tại các cảng nhập khẩu và cửa khẩu chính của Việt Nam đang được Cục Hải quan và Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm đào tạo về việc thực hiện kiểm soát xuất nhập khẩu gỗ. Chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm là bắt buộc đối với các công ty chế biến lớn tại Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất đồ nội thất.[3]
[1] Ví dụ, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông đã ban hành Quyết định (Quyết định số 176/QĐ-UBND ngày 26/02/2024) về việc công bố hiện trạng rừng năm 2023 trên địa bàn tỉnh Đắk Nông: http://qbvr.daknong.gov.vn/van-ban/van-ban-dia-phuong/vbpl-tinh/
[2] Quyết định số 888/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2022 về việc phê duyệt Đề án về các nhiệm vụ và giải pháp thực hiện kết quả Hội nghị COP26.
[3] Nghị định số 120/2024/NĐ-CP của Chính phủ: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 102/2020/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam.