Safeguard - A1.2.3. Support for the objectives of key national forest programs

A1.2.3. Hỗ trợ cho các mục tiêu của các chương trình lâm nghiệp quốc gia

SIS A1.1 đã nêu rõ mục tiêu các chương trình lâm nghiệp quốc gia và Chương trình hành động quốc gia về REDD+ (NRAP).

Về đóng góp của REDD+ cho việc giảm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tổng lượng giảm phát thải và hấp thu khí nhà kính (GHG) của khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất (AFOLU) năm 2016 là 44.069,74 ktCO2e, trong đó đất rừng đóng góp khối lượng lớn nhất, hấp thu 54657,78 ktCO2e (BUR3 2021[1]). Chương trình giảm phát thải vùng Bắc trung bộ báo cáo giảm được 22,314 triệu tCO2e trong giai đoạn 2018-2019, đóng góp vào mục tiêu quốc gia về giảm phát thải.[2]

Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021-2025 đặt mục tiêu về các hoạt động REDD+ sẽ góp phần tăng năng suất, chất lượng và giá trị rừng, bảo vệ đa dạng sinh học, tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu, và đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 5.0-5.5%/năm đến năm 2025.[3]

Việt Nam đã có nhiều bước tiến để đạt được các mục tiêu về bảo tồn đa dạng sinh học. Một số thành tựu bao gồm: tăng tỷ lệ che phủ rừng, tăng diện tích các giống cây có giá trị nhằm tạo ra các sản phẩm nông-lâm kết hợp có giá trị cao, tập huấn, nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng sinh học đặc biệt là các nhóm bảo tồn trong cộng đồng địa phương).[4]

Bảng A1.2.3 dưới đây nêu các mục tiêu của các chương trình lâm nghiệp quốc gia và thông tin chi tiết hơn về tiến độ thực hiện các mục tiêu của Việt Nam. Tiến độ được đánh giá dựa trên Báo cáo cập nhật hai năm một lần, Phụ lục Kỹ thuật REDD+ và các báo cáo liên quan khác (xem danh sách tài liệu tham khảo bên dưới).

 

[1] BUR3 (2021): https://unfccc.int/documents/273504

[2] Báo cáo giám sát lần 1 https://vnff.vn/en-us/erpa-program/mmrs/mmr1

[3] Quyết định 809/QĐ-TTG ngày 12/7/2022 phê duyệt Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021-2025

[4] Báo cáo lần 6 về Bảo tồn đa dạng sinh học: https://www.cbd.int/doc/nr/nr-06/vn-nr-06-en.pdf

 

Bảng A1.2.3: Tổng quan mục tiêu của các chương trình lâm nghiệp quốc gia và tiến độ thực hiện mục tiêu

Chương trình quốc gia/ mục tiêu

Năm

Tiến độ thực hiện

Chiến lược phát triển lâm nghiệp (2006-2020)

Quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng 16,24 triệu ha rừng bền vững

2020

Diện tích rừng đạt 14,6 triệu ha (mha), tỷ lệ che phủ 42% năm 2020[1], bao gồm 2,2 mha (15%) bảo tồn đa dạng sinh học; 4.6mha (32%) bảo vệ môi trường và 7,8 mha (53%) để khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ.[2] Diện tích rừng tự nhiên tăng từ 9 triệu ha lên 10,3 triệu ha năm 2020.[1]

Trồng rừng và tái trồng rừng đã góp phần làm tăng diện tích rừng. Trồng rừng tập trung bình quân đạt 227.500 ha/năm trong giai đoạn 2006 - 2020. Năm 2019, diện tích rừng trồng đạt trên 4,3 triệu ha, vượt mục tiêu nêu trong chiến lược là 1,5 triệu ha vào năm 2020.[3]

Đảm bảo sự tham gia của các khu vực kinh tế, các tổ chức xã hội trong phát triển lâm nghiệp để đóng góp vào phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học cung cáp dịch vụ sinh thái, giảm nghèo và nâng cao mức sống cho người dân nông thôn và miền núi, đảm bảo an ninh quốc gia và quốc phòng.

2020

Ngành lâm nghiệp chiếm 0,65% GDP cả nước năm 2020. Giá trị sản xuất của ngành (bao gồm chế biến lâm sản và dịch vụ môi trường) tăng 4,87% năm 2020.[3]

Giảm phát thải hàng năm (18,3 MtCO2/năm) và loại bỏ 38,5 MtCO2/năm) trong giai đoạn 2010-2018 cũng cho thấy tiến bộ trong bảo vệ và tái trồng rừng ở Việt Nam.[4]

Doanh thu từ PFES tăng trong thập kỷ qua. Tổng số tiền chi trả PFES năm 2011 đạt 282,93 tỷ đồng; năm 2016 đạt 1.284,66 tỷ đồng và năm 2019 đạt 2.800 tỷ đồng.[5] Thu nhập bình quân của hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng theo PFES là 2 triệu đồng/hộ/năm, kể từ khi triển khai [3]

Tính đến năm 2020, 4,3 triệu ha rừng trồng đã sản xuất được 30 triệu m3 gỗ, hỗ trợ cho 4.600 doanh nghiệp chế biến. Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2020 ​​đạt tới 13 tỷ đô la Mỹ. [1]

Chiến lược cũng có mục tiêu giảm số hộ nghèo ở các vùng lâm nghiệp trọng điểm (giảm nghèo cho 70% hộ vào năm 2020): tiến độ thực hiện không đồng đều, với mức giảm từ 31,1% xuống 60,8% ở các vùng khác nhau: ví dụ, tỷ lệ hộ nghèo ở vùng Bắc Trung Bộ giảm từ 22,2% xuống 8,7%, giảm 60,8%; trong khi ở Tây Nguyên, tỷ lệ này giảm từ 24% xuống 13,9%, giảm 42,1%.[3]

Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2021-2030 tầm nhìn 2050

Xây dựng ngành lâm nghiệp thực sự trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật; thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững rừng và diện tích đất được quy hoạch cho lâm nghiệp

2030

Chưa đánh giá

Đảm bảo sự tham gia rộng rãi, bình đẳng của các thành phần kinh tế vào các hoạt động lâm nghiệp, huy động tối đa các nguồn lực xã hội; ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại

2030

Chưa đánh giá

 

 

Phát huy tiềm năng, vai trò và tác dụng của rừng để lâm nghiệp đóng góp ngày càng quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, an ninh nguồn nước, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó chủ động và hiệu quả với biến đổi khí hậu, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ môi trường rừng, tạo việc làm và thu nhập cho người dân, giữ vững quốc phòng và an ninh, thực hiện thành công các mục tiêu quốc gia về phát triển bền vững.

2030

Chưa đánh giá

Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

2030

Chưa đánh giá

Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển rừng bền vững giai đoạn 2016-2020

Nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng, tăng giá trị rừng sản xuất trên đơn vị diện tích; góp phần đáp ứng các yêu cầu về giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân làm nghề rừng, gắn với tiến trình xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội

2020

Từ năm 2006 đến năm 2020, đã tạo ra 5 triệu việc làm trong ngành lâm nghiệp.[3]

Năng suất rừng trồng bình quân năm 2019 đạt khoảng 15 m3/ha/năm, tăng 1,5 lần so với năm 2009; trồng rừng thâm canh các giống rừng có chứng nhận năng suất cao đạt 20–25 m3/ha/năm.[3] Phấn đấu đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp là 5,5-6%/năm, sản lượng khai thác rừng trồng đạt 20 m3/ha/năm.[1]

Năm 2020, diện tích rừng trồng đạt 4,3 triệu ha, sản lượng gỗ khai thác đạt 30 triệu m3, hỗ trợ 4.600 doanh nghiệp chế biến. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ năm 2020 ước đạt 13 tỷ USD.[1]

Thu nhập bình quân của các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng theo cơ chế chi trả DVMTR từ khi triển khai là 2 triệu đồng/hộ/năm.[3] Xem ở trên để biết thêm thông tin về doanh thu PFES.

 

Tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt từ 5,5% đến 6,0%/năm; Tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42%, Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt từ 8,0 đến 8,5 tỷ USD, Duy trì ổn định 25 triệu việc làm.

2020

Độ che phủ rừng tăng từ 41,9% năm 2019 lên 42% vào năm 2020.[1]

Từ năm 2006 đến năm 2020, 5 triệu việc làm đã được tạo ra trong lĩnh vực lâm nghiệp.[3] Lĩnh vực này chiếm 0,65% GDP, trong khi giá trị sản xuất ngành (bao gồm cả chế biến lâm sản và dịch vụ môi trường) tăng lên 4,87% vào năm 2020.[3] Giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 10,3 tỷ đô la Mỹ vào năm 2019.[6]

Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021-2025

Bảo vệ và phát triển bền vững đối với toàn bộ diện tích rừng hiện có và diện tích rừng được tạo mới trong giai đoạn 2021 - 2025; góp phần duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc khoảng 42%; tiếp tục nâng cao năng suất, chất lượng rừng, đáp ứng yêu cầu về cung cấp nguyên liệu cho sản xuất và tiêu dùng, phòng hộ và bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, giảm thiểu tác động tiêu cực do thiên tai, tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu

2025

Chưa đánh giá

Thông tin tạm thời: Tổng diện tích rừng năm 2024 là 14,87 triệu ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,03%, trong đó rừng tự nhiên là 10,13 triệu ha. [8]

Tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 5,0 - 5,5%/năm. Giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản ngoài gỗ đạt khoảng 20 tỷ USD vào năm 2025, trong đó giá trị xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ đạt trên 1,5 tỷ USD, tăng tỷ trọng chế biến sâu và xuất khẩu các sản phẩm gỗ và lâm sản có giá trị gia tăng cao

2025

Chưa đánh giá

Thông tin tạm thời: Theo báo cáo tại 31 tỉnh, thành phố, năm 2023 có 73.951 ha được trồng theo mô hình cây lâm sản ngoài gỗ và cây thuốc dưới tán rừng.[9]

Góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người tham gia các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng. Đến năm 2025, thu nhập từ rừng trồng là rừng sản xuất tăng bình quân khoảng 1,5 lần/đơn vị diện tích so với năm 2020

2025

Chưa đánh giá

Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020.

Bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có; sử dụng tài nguyên rừng và quỹ đất được quy hoạch cho lâm nghiệp có hiệu quả và bền vững

2020

Diện tích rừng đạt 14,6 triệu ha (mha), tỷ lệ che phủ 42% năm 2020[1], bao gồm 2,2 mha (15%) bảo tồn đa dạng sinh học; 4.6mha (32%) bảo vệ môi trường và 7,8 mha (53%) để khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ [2]. Diện tích rừng tự nhiên tăng từ 9 triệu ha lên 10,3 triệu ha năm 2020[1].

Giảm phát thải hàng năm (18,3 MtCO2/năm) và loại bỏ 38,5 MtCO2/năm) trong giai đoạn 2010-2018 cũng cho thấy tiến bộ trong bảo vệ và tái trồng rừng ở Việt Nam.[4]

Nâng độ che phủ rừng lên 42 - 43% vào năm 2015 và 44 - 45% vào năm 2020; tăng năng suất, chất lượng và giá trị của rừng; cơ cấu lại ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng; đáp ứng cơ bản nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

2020

Độ che phủ rừng tăng từ 41,9% năm 2019 lên 42% vào năm 2020.[1]

Trong giai đoạn 2010-2018, tổng diện tích đất lâm nghiệp tăng 0,801 triệu ha (mha) từ 14.462 mha lên 14.462 mha, trong đó diện tích rừng trồng tăng 1.115 mha nhưng diện tích rừng tự nhiên giảm 0,314 mha.[4] Trong 10 năm qua, cả nước đã trồng được khoảng 230.000 ha rừng/năm (trong đó, 215.000 ha là rừng sản xuất).[7]

Năm 2020, diện tích rừng trồng đạt 4,3 triệu ha, sản lượng gỗ khai thác đạt 30 triệu m3, hỗ trợ 4.600 doanh nghiệp chế biến. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ năm 2020 ước đạt 13 tỷ USD.[1]

Tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân có cuộc sống gắn với nghề rừng, góp phần xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an ninh, quốc phòng

2020

Trong giai đoạn 2006 - 2020, 5 triệu việc làm được tạo ra trong ngành lâm nghiệp.[3]T

Tiến độ giảm nghèo trong các khu vực có rừng không đồng đều, với mức giảm từ 31,1% xuống 60,8% ở các vùng khác nhau: ví dụ, tỷ lệ hộ nghèo ở vùng Bắc Trung Bộ giảm từ 22,2% xuống 8,7%, giảm 60,8%; trong khi ở Tây Nguyên, tỷ lệ này giảm từ 24% xuống 13,9%, giảm 42,1%.[3]

Chương trình PFES đã thu được 400 triệu đô la Mỹ trong giai đoạn 2008-2022.[8] Tổng số tiền chi trả cho PFES năm 2011 đạt 282,93 tỷ đồng; 1.284,66 tỷ đồng năm 2016 và 2.800 tỷ đồng năm 2019.[5] Thu nhập bình quân của các hộ gia đình được khoán bảo vệ rừng theo PFES là 2 triệu đồng/hộ/năm kể từ khi triển khai. Doanh thu từ PFES cũng đã hỗ trợ 199 ban quản lý và 84 công ty lâm nghiệp.[3]

 

Nguồn tham khảo bảng A1.2.3

[1] Quyết định số 1558/QĐ-BNN-TCLN ngày 13/4/2021 công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2020

[2] Vu Tan, P., Hoang Anh, L. (2022) Đạt được mục tiêu phát thải và mục tiêu không phá rừng của Việt Nam tại New Zealand: những thách thức chính. Trình bày tại "Từ Tuyên bố của Lãnh đạo Glasgow về Rừng và Sử dụng Đất để đẩy nhanh các hành động về khí hậu - Hội nghị Biến đổi Khí hậu Bonn”: https://www.slideshare.net/CIFOR/delivering-vietnams-nz-emission-and-free-deforestation-targets-key-challenges

[3] Trieu VH, Pham TT and Dao TLC. 2020. Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam: Kết quả thực hiện giai đoạn 2006–2020 và đề xuất giai đoạn 2021–2030. Occasional Paper 213. Bogor, Indonesia: CIFOR. https://www.cifor.org/knowledge/publication/7879/

[4] Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (2020) Phụ lục kỹ thuật Báo cáo theo Quyết định14/CP.19: https://unfccc.int/sites/default/files/resource/Viet%20Nam_Technical%20Annex%20on%20REDD%20.pdf

[5] Hang Nguyen, TT., Singh, R. (2020) Tình trạng phá rừng ở Việt Nam: Quan điểm sinh thái chính trị. E3S Web of Conferences 203, 03013: https://www.e3s-conferences.org/articles/e3sconf/pdf/2020/63/e3sconf_ebwff2020_03013.pdf

[6] Thương mại gỗ, Tổng quan ngành gỗ Việt Nam: https://www.timbertradeportal.com/en/viet-nam/121/timber-sector

[7] MARD (2020) Phụ lục kỹ thuật về REDD+ theo Quyết định14/CP.19. https://unfccc.int/documents/273504

[8] Quyết định số 861/QD/BNNMT ngày 30/3/2025 công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2024

[9] Đỗ Anh Tuấn (2023) Báo cáo về xung đột đất lâm nghiệp và phát triển cây dưới tán rừng ở Việt Nam, trình Ban Kinh tế Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.