G2.1.3. Hệ thống giám sát rừng quốc gia (NFMS)

G2.1.3. Hệ thống giám sát rừng quốc gia (NFMS)

  • Việt Nam có các hệ thống giám sát biến động sử dụng đất, đất đai và độ che phủ rừng. Hệ thống Giám sát Rừng Quốc gia (NFMS), bao gồm một số hệ thống được kết nối liên thông với nhau, được thiết kế để giám sát việc thực hiện REDD+, theo dõi những thay đổi về độ che phủ và chất lượng rừng, từ đó cho phép các hành động giảm thiểu hoặc giải quyết rủi ro đảo ngược và di dời. Hệ thống Thông tin Quản lý Rừng (FORMIS) là hệ thống thông tin của Chính phủ dành cho ngành lâm nghiệp, cấu thành NFMS tại Việt Nam.
  • NFMS bao gồm các yếu tố sau: thu thập thông tin biến động rừng, xác định thời điểm biến động và nguyên nhân biến động, cập nhật biến động, phê duyệt và công bố biến động. Hệ thống giám sát biến động diện tích rừng theo trạng thái rừng, chủ rừng, mục đích sử dụng rừng và nguyên nhân. Kết quả sẽ hỗ trợ các cơ quan kiểm lâm ở cấp trung ương và cấp tỉnh lập kế hoạch và hành động để giải quyết các nguyên nhân bất lợi dẫn đến biến động rừng.[51] NFMS sử dụng cả công nghệ viễn thám và kiểm tra thực địa thông qua kiểm kê thực địa và xác minh bằng máy bay không người lái.
  • Bộ Nông nghiệp và Môi trường (MAE) chủ trì điều phối các cuộc khảo sát rừng và thành lập NFMS. Sở Nông nghiệp và Môi trường (DAE) và Chi cục Kiểm lâm báo cáo về tình trạng rừng như một phần của Hệ thống Quản lý Tài nguyên Rừng Quốc gia (NFMS) của tỉnh. Hệ thống FRMS của tỉnh được Chi cục Kiểm lâm, Trạm Kiểm lâm và các chủ rừng cập nhật thường xuyên; tình hình dữ liệu rừng cũng được các sở lâm nghiệp và người dùng khác truy cập có điều kiện.[2] Hệ thống cảnh báo sớm của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm sử dụng dữ liệu mặt đất và vệ tinh.[3] Đối với các rủi ro cụ thể như cháy rừng, các đội tuần tra phòng cháy chữa cháy cộng đồng được sử dụng và các đội phản ứng nhanh được đào tạo về công tác chữa cháy. Việc đốt có kiểm soát và quản lý tải trọng nhiên liệu được thực hiện tại các khu vực có nguy cơ cao.

NFMS của Việt Nam bao gồm:

  • Chương trình Kiểm kê, Giám sát và Đánh giá Rừng Quốc gia (NFIMAP): Dựa trên một loạt các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, NFIMAP đã được Viện Điều tra và Quy hoạch Rừng (FIPI) triển khai từ năm 1991, theo chu kỳ 5 năm, cho đến năm 2010. Dự án Kiểm kê và Thống kê Rừng Quốc gia (NFIS) đã được triển khai trong chu kỳ 2011-2016. Chương trình sử dụng công nghệ viễn thám kết hợp với khảo sát thực địa để theo dõi biến động tài nguyên rừng. Dữ liệu từ hệ thống ô mẫu tiêu chuẩn cũng được thu thập trong mỗi chu kỳ.
  • Các dự án NFIS: Một số dự án NFIS đã được thực hiện, bao gồm cả giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016. Trong Dự án NFIS gần đây nhất, bản đồ độ che phủ rừng được xây dựng qua hai giai đoạn: (i) "Giai đoạn khảo sát rừng" - diễn giải ảnh viễn thám kết hợp với khảo sát thực địa; (ii) "Giai đoạn thống kê rừng" - bản đồ kiểm kê rừng được sử dụng làm dữ liệu đầu vào để chồng ghép với bản đồ ranh giới chủ rừng theo địa chính nhằm tạo ra "bản đồ thống kê rừng". Bản đồ kiểm kê rừng được in ra cho từng chủ rừng để xác minh và được hiệu chỉnh khi cần thiết, tức là sử dụng phương pháp có sự tham gia. Trong giai đoạn kiểm kê rừng, một hệ thống ô mẫu được kiểm kê để ước tính trữ lượng trung bình cho từng loại rừng. Dữ liệu ô mẫu này cũng có thể được sử dụng để ước tính trữ lượng các-bon trung bình trong bể chứa trên mặt đất của từng loại rừng.

[1] Thông tư số 33/2018/TT-BNN về điều tra, kiểm kê rừng và theo dõi diễn biến rừng

[2] Báo cáo tham vấn LEAF: https://vnff.vn/en-us/leaf-program/soi-and-others

[3] https://v2.pcccr.vn/