A2.1.3. Chương trình quốc gia về REDD+ hỗ trợ cho các mục tiêu của các công ước và hiệp định quốc tế có liên quan
SIS A2.1.1. đã nêu rõ mục tiêu của các công ước và thỏa thuận quốc tế có liên quan, Việt Nam đã có nhiều bước tiến để đạt các mục tiêu, trong đó có đóng góp của các hoạt động REDD+. Ví dụ: Chủ đề A.1.1.4 đã nêu, các hoạt động REDD+ đã đóng góp vào Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), bao gồm kết quả giảm phát thải GHG.
Các chương trình lâm nghiệp quốc gia đã có nhiều bước tiến để đạt được các mục tiêu về bảo tồn đa dạng sinh học. Một số thành tựu bao gồm: đạt mục tiêu về tỷ lệ che phủ rừng, tăng diện tích các giống cây có giá trị nhằm tạo ra các sản phẩm nông-lâm kết hợp có giá trị cao, tập huấn, nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng sinh học đặc biệt là các nhóm bảo tồn trong cộng đồng địa phương.[1] Xem thêm thông tin trong Bảng A2.1.3 dưới đây.
[1] Báo cáo CBD lần 6 (2019): https://www.cbd.int/doc/nr/nr-06/vn-nr-06-en.pdf
Bảng A2.1.3: Các mục tiêu quốc gia liên quan đến các công ước, hiệp định quốc tế và tiến độ thực hiện
| Mục tiêu quốc gia gắn với các công ước | Thời gian | Tiến độ |
| Chiến lược đa dạng sinh học quốc gia đến 2020, tầm nhìn 2030 | ||
| Nâng cao chất lượng và tăng diện tích của các hệ sinh thái tự nhiên được bảo vệ, bảo đảm: Diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn (TPA) đạt 9% diện tích lãnh thổ | 2020 | Tính đến năm 2018, diện tích TPA đạt 2.269.426 ha, chiếm 6,84% diện tích lãnh thổ.[1] Tính đến năm 2021, TPA đã bao phủ 7,58%, theo Ngân hàng Thế giới.[2] Diện tích TPA rừng đặc dụng tăng lên 2,4 triệu ha vào năm 2020, theo Quyết định 1976/QĐ-TTg (2014) của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống rừng đặc dụng quốc gia.[1] |
| Độ che phủ rừng đạt 45% (sau đó sửa thành 42%) | 2020 | Độ che phủ rừng đạt 41.9% năm 2019 và 42% năm 2020.[3. |
| Rừng nguyên sinh được giữ ở mức 0,57 triệu ha và có kế hoạch bảo vệ hiệu quả; diện tích rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô được duy trì ở mức hiện có | 2020 | Diện tích rừng tự nhiên tang từ 9 triệu ha lên 10.3 triệu ha năm 2020.[3] Ước tính có khoảng 0,5 triệu ha rừng nguyên sinh ở Việt Nam.[1] |
| 15% diện tích hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị suy thoái được phục hồi | 2020 | Theo Báo cáo quốc gia lần thứ 6 gửi CBD của Việt Nam, hiện nay chưa có dữ liệu này.[1] Trồng rừng và tái trồng rừng đã góp phần làm tăng diện tích rừng. Trồng rừng tập trung bình quân đạt 227.500 ha/năm trong giai đoạn 2006 - 2020. Năm 2019, diện tích rừng trồng đạt trên 4,3 triệu ha, vượt mục tiêu chiến lược là 1,5 triệu ha vào năm 2020.[4] |
| Số lượng các khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam được quốc tế công nhận đạt: 10 khu Ramsar, 10 khu dự trữ sinh quyển, 10 vườn di sản ASEAN | 2020 | Việt Nam có 9 khu Ramsar với tổng diện tích 120,549 ha, 11 khu dữ trữ sinh quyển thế giới và 10 vườn di sản ASEAN.[5] |
| Cải thiện về chất lượng và số lượng quần thể các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, bảo đảm: Không gia tăng số lượng loài bị tuyệt chủng, cải thiện đáng kể tình trạng một số loài nguy cấp, quý, hiếm, bị đe dọa tuyệt chủng | 2020 | Tính đến năm 2014, có 362 loài động vật và 219 loài thực vật ở Việt Nam được liệt kê là bị đe dọa trong Sách đỏ IUCN. Trong Sách đỏ Việt Nam (2007), tổng số loài bị đe dọa được liệt kê là 882 loài, bao gồm 418 loài động vật và 464 loài thực vật. Năm 2014, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã cập nhật Sách đỏ, bao gồm 1.211 loài với các phân loại mới, tăng so với năm 2007.[1] |
| Đến năm 2030, 25% diện tích hệ sinh thái tự nhiên có tầm quan trọng quốc tế, quốc gia bị suy thoái được phục hồi. | 2030 | Chưa có dữ liệu |
| Chiến lược cũng bao gồm các nhiệm vụ, gồm: - Triển khai các chương trình phục hồi rừng có sử dụng các phương pháp và cách tiếp cận phù hợp với bảo tồn đa dạng sinh học, dự trữ các bon, thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu: - Lồng ghép các chỉ tiêu bảo tồn đa dạng sinh học trong việc thực hiện Chương trình NRAP - Lập bản đồ các khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao thuộc Chương trình REDD+; sử dụng các loài bản địa để làm giàu hoặc phục hồi rừng tại các khu vực trong khuôn khổ Chương trình REDD+ và góp phần thực hiện mục tiêu về bảo tồn đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu - Giảm thiểu các rủi ro đến đa dạng sinh học từ việc thực hiện Chương trình REDD+ thông qua việc áp dụng các cơ chế an toàn môi trường và xã hội | 2020 | Tại Việt Nam, Luật Lâm nghiệp (2017) yêu cầu quy hoạch lâm nghiệp phải phù hợp với chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học[6]. Các nguyên tắc, mục tiêu và mục tiêu cụ thể của NRAP[7] đề cập đến việc bảo tồn và tăng cường rừng tự nhiên, và các biện pháp REDD+ sẽ góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái, bao gồm “các mô hình tăng cường, bảo vệ và bảo tồn rừng tự nhiên, bao gồm cả rừng sản xuất và rừng đặc dụng, cũng như phục hồi và làm giàu rừng bằng các loài bản địa”. Một phân tích sơ bộ năm 2023 được tiến hành theo dự án REDD-pac về tiềm năng của REDD+ trong việc mang lại lợi ích bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam bao gồm lập bản đồ phân bố không gian của trữ lượng carbon và đa dạng sinh học.[8] Ngoài ra, hướng dẫn quốc gia về xây dựng Kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh cũng đưa ra hướng dẫn đánh giá lợi ích và rủi ro về môi trường và xã hội, đồng thời yêu cầu xây dựng các bản đồ về rừng (bao gồm rừng đặc dụng và rừng phòng hộ).[9]
|
| Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn 2050 | ||
| Mở rộng và nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống các di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên bảo đảm đạt được các chỉ tiêu cơ bản sau: diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên trên đất liền phấn đấu đạt 9% diện tích lãnh thổ đất liền; diện tích các vùng biển, ven biển được bảo tồn đạt từ 3 - 5% diện tích vùng biển tự nhiên của quốc gia; 70% khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên được đánh giá hiệu quả quản lý; các khu vực tự nhiên được quốc tế công nhận: 15 khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (khu Ramsar), 14 khu dự trữ sinh quyển, 15 vườn di sản ASEAN; tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc duy trì ổn định từ 42% - 43%; phục hồi được ít nhất 20% diện tích hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái | 2030 | Chưa đánh giá |
| Bảo tồn hiệu quả các loài hoang dã, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, loài di cư; không có thêm loài hoang dã bị tuyệt chủng; tình trạng quần thể của ít nhất 10 loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được cải thiện; các nguồn gen hoang dã và giống cây trồng, vật nuôi được lưu giữ và bảo tồn đạt mục tiêu thu thập, lưu giữ tối thiểu 100.000 nguồn gen | 2030 | Chưa đánh giá |
| Giá trị của đa dạng sinh học, dịch vụ hệ sinh thái được đánh giá, duy trì và nâng cao thông qua việc sử dụng bền vững, hạn chế các tác động tiêu cực tới đa dạng sinh học; giải pháp dựa vào thiên nhiên được triển khai, áp dụng trong phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu; thúc đẩy tiếp cận và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen | 2030 | Chưa đánh giá |
| Mục tiêu quốc gia tự nguyện cân bằng suy thoái đất Việt Nam giai đoạn 2017-2020 tầm nhìn 2030 | ||
| Bảo vệ 1.000.000 ha rừng vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung bộ với nguồn lực địa phương và 2.000.000 ha với nguồn hỗ trợ quốc tế | 2020 | Năm 2020, tổng diện tích rừng của Việt Nam là 14,677 triệu ha, trong đó 10,279 triệu ha rừng tự nhiên và 4,398 triệu ha rừng trồng. Theo mục đích sử dụng, có 4,686 triệu ha rừng phòng hộ, 2,173 triệu ha rừng đặc dụng, và 7,818 triệu ha rừng sản xuất.[14] Năm 2023, Việt nam có trên 14,86 triệu ha rừng, bao gồm 10,13 triệu ha rừng tự nhiên và 4,73 triệu ha rừng trồng. Theo mục đích sử dụng, có 3,12 triệu ha rừng phòng hộ, 2,17 triệu ha rừng đặc dụng, và 9,57 triệu ha rừng sản xuất.[13] Dữ liệu theo vùng chưa có. |
| Phục hồi 160.000 ha rừng tự nhiên vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung bộ với nguồn lực địa phương và 250.000 ha với nguồn hỗ trợ quốc tế | 2020 | Dữ liệu theo vùng chưa có. |
| Trồng mới 275.000 ha rừng vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung bộ với nguồn lực địa phương và 100.000 ha với nguồn hỗ trợ quốc tế | 2020 | Trồng mới rừng tập trung đạt 227.500 ha/năm trong giai đoạn 2006-2020. Năm 2019, có 4,3 triệu ha rừng trồng ở Việt Nam.[10] Diện tích rừng trồng đạt 4.398.030 ha năm 2020. Diện tích rừng đặc dụng và rừng phòng hộ năm 2010 là 779.300 ha, năm 2020 là 706.790 ha.[14] |
| Trồng 80.000 ha rừng gỗ lớn vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung bộ với nguồn lực địa phương và 100.000 ha với nguồn hỗ trợ quốc tế | 2020 | Dữ liệu theo vùng chưa có.
|
| Cập nhật mục tiêu NDC (2022) | ||
| Mục tiêu chung: Việt Nam sẽ giảm 15,8% lượng khí thải GHG so với kịch bản BAU vào năm 2030 bằng nguồn lực trong nước, tương đương 146,3 triệu tấn CO2eq. Đóng góp này có thể tăng 43,5% với sự hỗ trợ quốc tế thông qua hợp tác song phương cũng như đa phương và việc thực hiện các cơ chế mới theo Thỏa thuận Paris | 2030 | Chưa có dữ liệu về giảm phát thải GHG từ 2020. Lượng giảm phát thải hàng năm (18,3 MtCO2/ năm) và hấp thu 38,5 MtCO2/năm) trong giai đoạn 2010-2018 cho thấy thành quả đạt được trong bảo vệ và tái trồng rừng ở Việt Nam.[10] Đóng góp của lĩnh vực sử dụng đất và rừng vào giảm phát thải GHG là 1% với nỗ lực trong nước (9.3 MtCO2e) và 1.3% với hỗ trợ từ quốc tế (11.9 MtCO2e).[15] |
Nguồn tham khảo Bảng 2.1.3
[1] Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2019). Báo cáo quốc gia lần thứ 6 gửi Ban thư ký Công ước đa dạng sinh học: https://www.cbd.int/doc/nr/nr-06/vn-nr-06-en.pdf
[2] Ngân hang thế giới (2021). Diện tích các khu bảo tồn trên cạn của Việt Nam: https://data.worldbank.org/indicator/ER.LND.PTLD.ZS?locations=VN
[3] Quyết định số 1558/QĐ-BNN-TCLN ngày 13/4/2021 công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2020
[4] Trieu VH, Pham TT và Dao TLC. 2020. Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam: Kết quả thực hiện giai đoạn 2006-2020 và đề xuất giai đoạn 2021-2030. Báo Occasional Paper 213. https://www.cifor.org/knowledge/publication/7879/
[5] Green và Sail Ventures (2022). Đánh giá JEC Việt Nam. 2022. Hỗ trợ từ USAID: https://www.andgreen.fund/wp-content/uploads/2022/09/220513_JECA-Report-Vietnam_Final-1.pdf
[6] Luật Lâm nghiệp (2017), Điều 10: https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=192329
[7] NRAP, Quyết định số 419/QD-TTg ngày 5/4/2017: https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=189244
[8] Mant, R., và cộng sự. (2013) Lập bản đồ tiềm năng của REDD+ trong bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam: phân tích sơ bộ. https://www.un-redd.org/sites/default/files/2021-10/VN_Report_En_High_Res.pdf
[9] Quyết định số 5414/2015/QD-BNN-TCLN của Bộ NN và PTNT phê duyệt Hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động REDD+ cấp tỉnh: https://sis.kiemlam.gov.vn/documents/20142/0/Decision+5414.PRAP+guidelines.EN.pdf/fd7aa482-9a71-7007-b2c1-5b337e33837f
https://unfccc.int/sites/default/files/resource/Viet%20Nam_Technical%20Annex%20on%20REDD%20.pdf :BUR3 đính kèm Quyết định 14/CP.19 [10] Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2020) Phụ lục kỹ thuật, Báo cáo
[11] Bộ NN&PTNT, 2020, Phụ lục kỹ thuật về REDD+ đính kèm Quyết định 14/CP.19 và Kế hoạch nâng cao chất lượng rừng để bảo vệ hệ sinh thái rừng và phòng chống thiên tai tới năm 2030
[12] https://thiennhienmoitruong.vn/phat-trien-ben-vung-dien-tich-rung-ven-bien.html
[13] Bộ NN&PTNT Quyết định số 816/QĐ-BNN-KL công bố hiện trạng rừng năm 2023.
[14] Bộ NN&PTNT Quyết định số 1558/QĐ-BNN-TCLN công bố hiện trạng rừng năm 2020.
[15] Đóng góp do quốc gia tự quyết định của VIệt Nam (2022). https://unfccc.int/documents/622541