F2.1.2. Các hành động giải quyết rủi ro đảo nghịch
Khung ĐBAT quốc gia Việt Nam xác định ba hành động/ biện pháp chính để giảm rủi ro đảo nghịch, bao gồm:
- Phân tích rủi ro đảo nghịch việc giảm/loại bỏ phát thải;
- Lựa chọn và thiết kế các giải pháp, chính sách (PaM) REDD+ có tính đến rủi ro đảo nghịch, xây dựng vùng đệm và các biện pháp quản lý rủi ro khác. Các giải pháp cũng liên quan đến việc xem xét tính bền vững về tài chính và sinh thái của các PaM, khung pháp lý và quy định, cũng như những thay đổi tiềm ẩn về điều kiện môi trường và phân tích toàn diện các nguyên nhân gây mất rừng và suy thoái rừng;
- Xây dựng và vận hành Hệ thống giám sát rừng quốc gia (NFMS) nhằm góp phần phát hiện và cung cấp thông tin về các hiện tượng đảo nghịch phát thải. Xem Chủ đề F2.1.3 để biết thêm thông tin
Phân tích rủi ro đảo nghịch:
Các đồng lợi ích và rủi ro môi trường và xã hội của các chính sách và giải pháp của Chương trình Quốc gia về REDD+(NRAP)[1] đã được đánh giá vào năm 2017, và các biện pháp tăng cường lợi ích và giảm rủi ro được đề xuất[2], bao gồm một số rủi ro liên quan đến rủi ro nghịch đảo tiềm ẩn, như:
- Tiếp tục mất rừng tự nhiên, rừng có giá trị các-bon cao hoặc các khu rừng thực hiện các dịch vụ môi trường quan trọng khác
- Các nguồn đầu tư, ưu đãi và giá cả thị trường có khả năng tăng cao trong nông nghiệp có thể làm cho sản xuất hiệu quả/hấp dẫn hơn và cũng là tác nhân gây mất rừng trong thời gian dài với quy mô lớn hơn
- Việc giao đất rừng và cách thức quản lý liên kết, hợp tác có thể dẫn tới các tác động trái chiều đối với việc bảo vệ rừng và có thể hợp pháp hóa việc sử dụng rừng và đất rừng không bền vững.
- Các mô hình kinh doanh lâm sản ngoài gỗ có thể dẫn đến khai thác quá mức lâm sản ngoài gỗ và/hoặc suy thoái/phá rừng để sản xuất (ví dụ: trồng tre trên đất rừng tự nhiên)
- Nguy cơ cháy rừng trồng hoặc dịch bệnh
- Thiếu quan tâm chăm nuôi hoặc loại bỏ các khu rừng trồng ven biển tại các khu vực là rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng, ngập lụt trong các rừng tràm.
Các giải pháp được đề xuất trong quá trình đánh giá lợi ích và rủi ro của NRAP và các PaM bao gồm: (1) các cơ chế tài chính xanh cần bao gồm các biện pháp bảo vệ môi trường rõ ràng như tiêu chí và quy trình sàng lọc ý tưởng các khoản đầu tư, (2) xây dựng hệ thống giám sát và truy xuất nguồn gốc để giảm việc chuyển đổi rừng sang nông nghiệp, (3) tiến hành kiểm kê về tình trạng của các khu rừng trong phạm vi quản lý, (4) thúc đẩy các hoạt động quản lý rừng bền vững và chứng nhận rừng trồng, (5) xây dựng các hướng dẫn thực tế về trồng rừng/tái trồng rừng và quản lý rừng trồng tại địa phương, bao gồm lựa chọn địa điểm/giống cây, thiết kế rừng trồng, kiểm soát dịch hại, phòng chống cháy rừng, v.v.
Tại cấp vùng, Hướng dẫn xây dựng PRAP[3] của MARD đưa ra định hướng về đánh giá rủi ro, lợi ích môi trường và xã hội của các PaM cấp tỉnh nhằm giải quyết rủi ro đảo ngược, bao gồm lập kế hoạch, tăng cường thực thi luật lâm nghiệp và vận hành hệ thống giám sát rừng (NFMS). Như đã nêu ở Chủ đề E2.1.2; 22 tỉnh đã ban hành PRAP, bao gồm thực hiện đánh giá lợi ích và rủi ro.
Thực hiện phân tích, đánh giá lợi ích, rủi ro môi trường và xã hội của các chính sách và biện pháp REDD+ được thực hiện thông qua Đánh giá môi trường và xã hội chiến lược (SESA)[4] cho chương trình FCPF-ERP ở vùng Bắc trung bộ và thông qua đánh giá các cân nhắc về môi trường và xã hội cho Dự án quản lý rừng bền vững ở khu vực đầu nguồn Tây Bắc (SUSFORM-NOW) do JICA tài trợ.
Chương trình FCPF-ERP đã xác định các rủi ro đảo nghịch bao gồm cháy, sâu bệnh, khai thác trái phép, mở rộng nông nghiệp không có kế hoạch, phát triển cơ sở hạ tầng hoặc biến đổi khí hậu (do thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa, gia tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan), trong khoảng từ rủi ro thấp đến trung bình. Các chiến lược để xử lý những rủi ro này bao gồm: Phương pháp tiếp cận quản lý đồng hợp tác thích ứng (ACMA) lồng ghép với kế hoạch sử dụng đất; hỗ trợ không mở rộng đập và đường trong khu vực rừng; cải thiện trách nhiệm giải trình và 'quyền sở hữu' đối với các khu vực rừng thông qua quản lý hợp tác; và hỗ trợ cải thiện kỹ thuật và lựa chọn địa điểm và loài cây phù hợp cho rừng trồng.
Chương trình LEAF các rủi ro đảo ngược sẽ được đưa vào thảo luận về các rủi ro và lợi ích tiềm ẩn và được nêu trong Tài liệu đăng ký TREES.[5]
Thiết kế các PaM cho REDD+ và các cơ chế khác:
Các chương trình NRAP, PRAP, FCPF ERP đã tiến hành phân tích toàn diện các yếu tố trực tiếp và gián tiếp dẫn đến nạn phá rừng, suy thoái rừng và thiết kế các biện pháp can thiệp để xem xét rủi ro đảo ngược:
- Thiết kế chương trình NRAP (2017) bao gồm các quy trình giúp giảm thiểu rủi ro đảo nghịch, bao gồm đánh giá yếu tố trực tiếp và gián tiếp gây ra nạn phá rừng và suy thoái rừng, kết hợp các chính sách và biện pháp sẵn có với lựa chọn các chính sách và biện pháp của NRAP nhằm giảm thiểu rủi ro đảo nghịch. Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2016 để xác định các chiến lược khác nhau cho việc thực hiện REDD+[6], bao gồm ưu tiên giải quyết các nguyên nhân và rào cản, và một gói các chính sách và giải pháp để thực hiện 5 hoạt động REDD+. Phân tích tập trung vào các nguyên nhân và rào cản trực tiếp và gián tiếp gây ra thay đổi về sử dụng đất và rừng, bao gồm việc xem xét một loạt các yếu tố xã hội, chính trị và kinh tế, và mối liên hệ giữa các yếu tố này. Các yếu tố này cũng được xem xét và liên kết với các nguyên nhân khi xây dựng các PaM.
- NRAP bao gồm các chính sách và biện pháp để xem xét các nguy cơ nghịch đảo với các hoạt động chính như: (1) tăng cường thực thi pháp luật về bảo vệ rừng để kiểm soát nạn phá rừng và suy thoái rừng; (2) giám sát rừng, bao gồm cả giám sát có sự tham gia; (3) Điều phối, lồng ghép các chương trình đầu tư lâm nghiệp theo kế hoạch bảo vệ và tái trồng rừng cũng như cải thiện sản xuất nông nghiệp nhằm cải thiện sinh kế của cộng đồng dân cư địa phương, đặc biệt là các cộng đồng dân cư phụ thuộc vào rừng.[1]
- Chương trình FCPF-ERP xác định sáu nguyên nhân gây mất rừng và suy thoái rừng ở Bắc trung bộ[4]; và Báo cáo giám sát lần thứ nhất[7] bao gồm (mục 1.2 về các nguyên nhân chính được xác định trong khu vực tính toán): (1) Kế hoạch chuyển đổi chủ yếu từ rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cao su và sản xuất nông nghiệp khác; (2) Kế hoạch chuyển đổi phần lớn diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cây rừng; (3) Chuyển đổi rừng không theo quy hoạch do bị lấn chiếm; (4) Tác động từ việc phát triển thủy điện và cơ sở hạ tầng; (5) Khai thác gỗ hợp pháp và bất hợp pháp; và (6) Các nguyên nhân khác. Báo cáo giám sát cho biết, các yếu tố gây mất rừng và suy thoái rừng đã được xem xét và xử lý trong giai đoạn 2016-2017. Tuy nhiên, các dự án phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy điện) đã làm tăng mất rừng trong giai đoạn 2018-2019.[7]
Cơ chế quản lý rủi ro đảo nghịch cũng được xây dựng cho các chương trình giảm phát thải:
- Các hành động để giảm thiểu rủi ro đảo nghịch FCPF-ERP được liệt kê trong Báo cáo giám sát (Phần 7)[7] và cơ chế quản lý đảo nghịch bao gổm một vùng đệm trong đó lượng giảm phát thải từ Chương trình có thể được giữ lại để bù đắp các rủi ro đảo nghịch tương lai trong Khu vực tính toán chi trả của Chương trình, và được quản lý thay mặt Quỹ Các-bon. Điều này sẽ tuân theo Chủ đề Khung Phương pháp của Quỹ Các-bon và các hướng dẫn về vùng đệm ERP có liên quan.[4] Nguy cơ rủi ro đảo nghịch được giảm trừ tối đa lên đến 25%.
- Với Chương trình giảm phát thải khu vực Tây nguyên và Nam trung bộ (LEAF), như đã nêu trên, tỷ lệ cố định được khấu trừ cho khoản đóng góp của quỹ đệm cho việc đảo nghịch là -10% và khoản đóng góp của quỹ đệm đảo nghịch dự kiến là (25% - 10%) = 15%.[5]
[1] Quyết định số 419/QĐ-TTg năm 2017 về Phê duyệt chương trình quốc gia về REDD+ (NRAP) và Phụ lục: Thực hiện các PaM cho REDD+ giai đoạn 2017-2020
[2] Tổng hợp đánh giá lợi ích và rủi ro tiềm năng từ NRAP: https://sis.kiemlam.gov.vn/web/guest/library/-/document_library/iXuUrTYhhdKx/view_file/75422
[3] Quyết định số 5414/2015/QĐ-BNN-TCLN về Hướng dẫn xây dựng PRAP
[4] Tài liệu dự án FCPF: https://www.forestcác-bonpartnership.org/system/files/documents/00_FINAL%20ER-PD%20Vietnam%205%20Jan%202018__0.pdf
[5] Tài liệu đăng ký TREES: https://vnff.vn/en-us/leaf-program/mmr/registration-document
[6] Richard McNally, Vũ Tấn Phương, Nguyen The Chien, Phạm Xuân Phương, Nguyễn Việt Dũng (2016) Issues and options: support for the revision of Viet Nam’s National REDD+ Programme (NRAP), 2016-2020
[7] Báo cáo giám sát lần 1, FCPF, trang 6: https://vnff.vn/en-us/erpa-program/mmrs/mmr1